Nguyễn Bỉnh Khiêm – Wikipedia tiếng Việt

Nguyễn Bỉnh Khiêm (chữ Hán: 阮秉謙; 1491 – 1585), tên huý là Văn Đạt (文達),[1] tự là Hanh Phủ (亨甫), hiệu là Bạch Vân am cư sĩ (白雲庵居士),[2] được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử (雪江夫子), là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam – Bắc triều (Lê – Mạc phân tranh) cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam. Sau khi đậu Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi (1535)[3] và làm quan dưới triều Mạc, ông được phong tước “Trình Tuyền hầu” rồi thăng tới “Trình Quốc công” (程國公)[4][5] mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình.[6] Ngoại trừ quãng thời gian dưới 10 năm thời thơ ấu có thể xem là bình yên cuối triều Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống gần trọn thế kỷ 16, một thế kỷ nhiều biến chuyển mang tầm ảnh hưởng chưa từng có trước đó trong lịch sử dân tộc, mà ông vừa là nhân chứng vừa là nhân tố quan trọng tạo nên chúng. Là một người xuất thân từ tầng lớp trí thức quan lại nhưng cả cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ coi việc làm quan là lý tưởng cao nhất của sự nghiệp, cũng như là một nhà nhân đạo chủ nghĩa ông luôn đề cao tư tưởng thân dân trong sách lược trị nước.

Dưới thời quân chủ của Việt Nam, ông là một trong số hiếm “văn nhân thuần túy” (tức là những người không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng cầm quân ra trận) và lại cũng không phải là công thần khai quốc lẫn người thân thích với hoàng tộc nhưng được phong tới tước Công (‘Quận công’ hay ‘Quốc công’) ngay từ lúc còn sống. Trình Quốc công là tước phong chính thức cao nhất của vua nhà Mạc ban cho Nguyễn Bỉnh Khiêm gần 20 năm trước khi ông mất. Sự thật lịch sử này căn cứ vào 3 tấm văn bia do chính ông soạn lúc đã cáo quan về quy ẩn tại quê nhà Trung Am ở độ tuổi ngoài 73 và hiện còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của tỉnh Thái Bình.[7][8][9] Việc phong tước hiệu Quốc công cho Nguyễn Bỉnh Khiêm ngay từ lúc sinh thời đã chứng tỏ sự trân trọng rất lớn mà vua Mạc dành cho ông và có thể xem đây là một sự ghi nhận mang tính biểu tượng của nhà vua đối với những đóng góp của ông cho triều đại này. Cần nhớ rằng trong lịch sử Trung Quốc cũng như Việt Nam, hai tước hiệu hàng đầu như tước Công và Vương có quy chế rất khắt khe để vua ban phong cho những người không có quan hệ thân thích với hoàng tộc. Kiểu “văn nhân thuần túy” và lại không có quan hệ thân thích với hoàng tộc như Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Nguyễn Trãi là khó hơn cả các trường hợp xét duyệt khác để được phong tới tước công (dù là Quốc công hay Quận công) ngay khi còn sống. Kiểu “văn nhân cầm quân” chẳng hạn như Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Công Trứ hay Trương Đăng Quế thậm chí còn có nhiều cơ hội để lập quân công với triều đình hơn kiểu “văn nhân thuần túy” nên họ thường được phong tước hiệu cao hơn. Tuy nhiên đến nay, vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một nhận định sai sót là Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ được truy phong tước hiệu Quốc công sau khi ông đã qua đời. Đạo Cao Đài sau này cũng phong thánh cho ông và suy tôn ông là Thanh Sơn Đạo sĩ hay Thanh Sơn chân nhân.

Xét một cách toàn diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16, nhiều người đã gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm là “cây đại thụ văn hóa dân tộc”, hay nói theo cách khác, ông đã được xem là đại diện tiêu biểu nhất của lịch sử phát triển văn hóa Việt Nam trong thế kỷ nhiều biến động lớn này.[10][11] Cùng với một nhân vật nổi danh khác của xứ Hải Đông là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của thời kỳ văn hóa Lê–Mạc mang tính bản lề trong lịch sử trung đại của Việt Nam. Một vài người trong thời kỳ này, điển hình như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể được coi là những tác gia văn học thực sự lớn đầu tiên của Việt Nam.[12] Cũng như về nhiều phương diện, họ có thể được xem là những tên tuổi ‘tập đại thành’ đầu tiên của nền thơ ca Việt Nam. Đó là những người mà tác phẩm của họ có sự dồi dào về số lượng, phong phú về thể tài và có ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình phát triển của một nền văn học mang tính dân tộc. Một yếu tố quan trọng nữa ở các tác gia này là phần lớn tác phẩm của họ vẫn còn được lưu truyền qua nhiều biến động của lịch sử để hậu thế ngày nay có thể nghiên cứu và đánh giá một cách tương đối toàn diện về sự nghiệp văn chương của họ. Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đánh giá là người xứng đáng kế thừa và phát triển ngôn ngữ thi ca dân tộc kể từ sau thời Nguyễn Trãi,[13][14][15] góp phần giúp nó đạt đến mức độ hoàn thiện cao dưới thời Nguyễn Du. Cần nhớ rằng việc sáng tác thơ văn bằng tiếng mẹ đẻ (tức tiếng Việt) sử dụng chữ Nôm của người Việt đã có những bước đi chập chững đáng ghi nhận ở thời kỳ Lý–Trần nhưng chỉ thực sự tạo ra những bước đột phá vững chắc đầu tiên trong thời đại Lê–Mạc mà điển hình là 3 tập thơ Nôm còn được lưu truyền đến ngày nay bao gồm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập của vua Lê Thánh Tông cùng các triều thần, và Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm.[16][17][18] Hai tập thơ của ông là Bạch Vân am thi tập (chữ Hán) và Bạch Vân quốc ngữ thi tập (chữ Nôm) được coi là thành tựu lớn của thơ văn trung đại Việt Nam, mở đầu cho một dòng thơ ca “chạm chân vào hiện thực”, đã quan tâm mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường, là một cống hiến lớn của văn học thời Mạc đối với tiến trình phát triển và hoàn thiện của thơ văn dân tộc.[19][20] Xét về nhiều mặt, có thể xem ông là người đi khai phá có công khơi mở nhiều hướng phát triển mới cho thơ ca Việt Nam, trong đó có những dòng thơ mang đậm tính tuyên truyền đạo lý – suy tưởng triết lý – cảm hứng thế sự (tiệm cận với hiện thực đa diện của xã hội đương thời) sẽ có điều kiện phát triển mạnh ở các thế kỷ sau ông như lịch sử thơ văn Việt Nam đã ghi nhận.

Ông cũng được sử sách và người đời thừa nhận rộng rãi với tư cách là một nhà dự báo, hoạch định chiến lược kỳ tài,[21][22] với tầm nhìn địa chính trị đi trước thời đại nhiều thế kỷ.[23][24][25] Những lời cố vấn nổi tiếng của ông dành cho các tập đoàn quyền lực phong kiến Mạc, Lê-Trịnh, Nguyễn (nói theo lời của danh sĩ Nguyễn Thiếp là phiến ngữ toàn tam tính)[26] đã có ảnh hưởng to lớn, mang tính bước ngoặt đối với tiến trình của lịch sử dân tộc và từ đó tác động lớn tới quan hệ địa chính trị của cả khu vực Đông Nam Á trở về sau. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Nguyễn Bỉnh Khiêm có khả năng là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có một tầm nhìn chiến lược thấu suốt về chủ quyền của đất nước trên biển Đông ngay từ thế kỷ 16.[27][28] Ông cũng có thể là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến hai chữ Việt Nam – với tư cách là quốc hiệu của dân tộc – một cách có ý thức nhất thông qua di sản thơ văn của ông còn lưu lại đến ngày nay.[29][30] Do đó người đời sau coi ông là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam đồng thời lưu truyền nhiều câu sấm ký được cho là bắt nguồn từ ông và gọi chung là Sấm Trạng Trình. Không chỉ dân gian mà 2 bộ chính sử của nhà Nguyễn là Đại Nam nhất thống chíĐại Nam thực lục tiền biên (đều do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn) cũng xác nhận năng lực dự đoán – tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm và tác động của ông đến quyết định Nam tiến của Nguyễn Hoàng.

Tiểu sử

Sử liệu Đại Việt thuộc địa phận nhà Mạc cai quản ở thế kỷ 16 do các sử thần triều Mạc biên soạn hầu như thất lạc (có thể trong giai đoạn chiến tranh ác liệt Lê-Mạc) và không được lưu truyền về sau. Cũng có thể do thời gian cầm quyền ngắn mới có 65 năm ở Thăng Long và lại đang bận tâm nhiều đến việc chiến sự đương thời nên nhà Mạc chưa chú trọng viết sử của triều đại mình. Khi nhà Lê-Trịnh đánh bại nhà Mạc vào năm 1592, thì sử thần nhà Lê Trung Hưng cũng là những người biên soạn hầu hết những dữ liệu lịch sử về thời Mạc như chúng ta biết ngày nay. Các sách chính sử Việt Nam do những sử thần của nhà Lê-Trịnh (bao gồm cả Phạm Công Trứ và Lê Quý Đôn) biên soạn trong các thế kỷ 17 và thế kỷ 18 (như Đại Việt sử ký toàn thư bản bổ sung, Đại Việt thông sử) không ghi chép đầy đủ và rõ ràng về Nguyễn Bỉnh Khiêm, chủ yếu chép 2 sự kiện khi Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên và lúc ông xin về quê. Người đầu tiên có những nghiên cứu và biên soạn tương đối chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân trong bản Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký viết năm 1743.[31][32][33]

Bên cạnh bản phả ký của Vũ Khâm Lân, có 2 nguồn thông tin quan trọng về Nguyễn Bỉnh Khiêm được giới nghiên cứu ngày nay (bao gồm nhà nghiên cứu văn hóa Vũ Khiêu) đánh giá cao về độ tin cậy là nguồn thơ văn (chữ Hán và chữ Nôm) của chính ông và nguồn thông tin lịch sử từ các bản văn bia thời Mạc còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn xung quanh vùng Tiên Lãng (Hải Phòng), Vĩnh Bảo (Hải Phòng) và Quỳnh Phụ (Thái Bình). Vào năm 2000, đoàn cán bộ của Viện nghiên cứu Hán Nôm tiến hành sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại huyện Quỳnh Phụ thuộc tỉnh Thái Bình đã phát hiện 2 tấm bia (có tên Diên Thọ kiều bi kýTu tạo thạch Phật bi ký) thời Mạc do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm biên soạn và chứa nhiều thông tin lịch sử rất có giá trị về cuộc đời thực của ông. Chẳng hạn, qua 2 tấm văn bia được phát hiện ở huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình), các nhà nghiên cứu có thể xác nhận một sự thật lịch sử là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được vua Mạc phong tước Trình Quốc công (程國公) từ trước năm 1568, tức là sớm hơn 17 năm trước khi ông qua đời.[8][9]

Phần lớn cuộc sống gần trọn một thế kỷ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trải qua ở quê nhà Trung Am ( trước thời ông có tên là Trình Tuyền ), Vĩnh Lại thuộc xứ Đông, cũng là đất phát nghiệp của nhà Mạc. Ông chỉ đi vào chốn quan trường khi đã gần 50 tuổi, sau nhiều năm đứng ngoài quan sát thời cuộc. Đường quan lộ của ông lê dài chưa đầy 30 năm, tính từ năm ông đậu Trạng nguyên ở tuổi 45 ( 1535 ) cho tới khi chính thức cáo quan về nghỉ hưu ở độ tuổi 73 như trong thơ văn của ông đã xác nhận. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu ưng ý với một sai sót lịch sử vẻ vang cơ bản về cuộc sống và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ông chỉ có 7 năm ( 1535 – 1542 ) làm quan dưới triều Mạc rồi cáo quan về sống và dạy học ở quê nhà Trung Am cho đến lúc mất. Sự thật không trọn vẹn như vậy. Khoảng thời hạn gần hai chục năm tính từ năm ông 53 tuổi tới lúc 73 tuổi, ông hầu hết làm quan tại gia, đóng vai trò cố vấn từ xa cho vua và chỉ về triều khi cần bàn việc chính vì sự hay theo xa giá nhà vua đi dẹp loạn .

Trình Quốc công là tước phong chính thức cao nhất của vua nhà Mạc ban cho Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc sinh thời, từ khoảng hơn 20 năm trước khi ông mất.[7][8][9] Dưới thời quân chủ của Việt Nam, ông là một trong số rất hiếm “văn nhân thuần túy” (tức là những người không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng đích thân cầm quân ra trận) được phong tới tước Quốc công ngay từ khi còn sống. Điều này cho thấy nếu không có công tích đặc biệt lớn với triều đình thì một “văn nhân thuần túy” như ông rất khó có thể được phong đến tước Quốc công (Trình Quốc công) ngay từ lúc còn sống như nội dung 3 tấm văn bia còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của tỉnh Thái Bình đã cho biết.[7][8][9] Ông không phải người thân thích trong hoàng tộc nhà Mạc, cũng không phải quan tướng nắm binh quyền. Ông là hình mẫu của một “văn nhân thuần túy” như sử sách và cả thơ văn của chính ông vẫn thường mô tả. Việc phong tước hiệu Quốc công cho Nguyễn Bỉnh Khiêm ngay từ lúc sinh thời đã chứng tỏ sự trân trọng vô cùng lớn mà vua Mạc dành cho ông và có thể xem đây là một sự ghi nhận mang tính biểu tượng của nhà vua đối với những đóng góp của ông cho triều đại này. Cần nhớ rằng trong lịch sử Trung Quốc cũng như Việt Nam, hai tước hiệu hàng đầu như tước Công và Vương có quy chế rất khắt khe để vua ban phong cho những người không có quan hệ thân thích với hoàng tộc. Kiểu “văn nhân thuần túy” và lại không có quan hệ thân thích với hoàng tộc như Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Nguyễn Trãi là khó hơn cả các trường hợp xét duyệt khác để được phong tới tước công (dù là Quốc công hay Quận công) ngay khi còn sống. Kiểu “văn nhân cầm quân” chẳng hạn như Nguyễn Nghiễm hay Nguyễn Công Trứ thậm chí còn có nhiều cơ hội để lập quân công với triều đình hơn kiểu “văn nhân thuần túy” nên họ thường được phong tước hiệu cao hơn. Tuy nhiên đến nay, vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một nhận định sai sót là Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ được truy phong tước hiệu Quốc công sau khi ông đã qua đời.

Một trường hợp khá tương tự là tấm bia hộp hay còn gọi là “sách đá” được tìm thấy khi người ta tình cờ đào phải mộ thân phụ Trạng nguyên Giáp Hải (1515–1586?) tại Bắc Giang năm 1998. Bản bia hộp hay “sách đá” này đã giúp giải đáp nhiều nghi vấn và cả hiểu nhầm (bao gồm cả ở những học giả nổi danh như Phan Huy Chú) về cuộc đời và sự nghiệp của Giáp Hải, một trọng thần của triều Mạc và đồng thời là một người bạn vong niên thân cận của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tấm bia hộp cũng cho ta biết được thông tin quan trọng là một văn nhân thuần túy như Giáp Hải chỉ được thăng đến tước Quốc công giống Nguyễn Bỉnh Khiêm khi ông đã ở gần độ tuổi cáo quan về hưu sau khi đã có nhiều năm hết lòng phụng sự triều Mạc.[34][35]

Gia thế và những năm thơ ấu

Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyên có tên khai sinh là Nguyễn Văn Đạt, sinh ngày 6 tháng 4 năm Tân Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 22 dưới triều Lê Thánh Tông ( 13 tháng 5 1491 ), ở thời kỳ được coi là thịnh trị nhất của nhà Lê sơ. Ông sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Thành Phố Hải Dương ( nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng Đất Cảng ). Cha của ông là giám sinh Nguyễn Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên, nổi tiếng hay chữ nhưng chưa hiển đạt trong đường khoa cử. Mẹ của ông là bà Nhữ Thị Thục, con gái út của quan Tiến sĩ Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan triều Lê Thánh Tông, bà là người phụ nữ có bản lĩnh khác thường, học rộng biết nhiều lại giỏi tướng số, nên muốn chọn một người chồng có tài năng để sinh ra người con hoàn toàn có thể tạo ra sự đế nghiệp sau này, [ 36 ] nhưng kén chọn mãi đến khi luống tuổi bà nghe lời cha mới lấy ông Nguyễn Văn Định ( người huyện Vĩnh Lại ) là người có tướng sinh quý tử .Quê ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách, trấn Thành Phố Hải Dương ( nay là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố TP. Hải Phòng ). Nội ngoại đôi bên thuộc hai phủ nhưng bên này bên ấy nhìn rõ cây đa đầu làng, chỉ qua con sông Hàn ( Tuyết Giang ) nối đôi bờ .Nguyễn Bỉnh Khiêm được giáo dục từ nhỏ trong một mái ấm gia đình nội ngoại đều có học vấn uyên bác. Hầu hết những điều tra và nghiên cứu về cuộc sống và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều ghi nhận ảnh hưởng tác động lớn của bên họ ngoại trong việc hình thành nhân cách cũng như kĩ năng của ông. Trong gia phả của họ Nguyễn ( thuộc nhánh hậu duệ người con trai thứ 7 của Nguyễn Bỉnh Khiêm ) ở thôn An Tử Hạ còn ghi lại : ” Phu nhân hồi An Tử Hạ, ỷ phụ vương giáo dưỡng Đạt nhi tam tuế “, qua đó cho thấy người mẹ Nhữ Thị Thục và ông ngoại Nhữ Văn Lan có công lớn giáo dưỡng Nguyễn Văn Đạt khi còn nhỏ. [ 37 ]

Thời niên thiếu và những năm biến loạn cuối đời Lê sơ

Đến tuổi trưởng thành, nghe tiếng Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều (thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày nay) nổi danh trong giới sĩ phu đương thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cất công vào tận xứ Thanh để tầm sư học đạo. Lương Đắc Bằng từng là một đại thần giữ chức Thượng thư dưới triều Lê sơ nhưng sau khi những kế sách nhằm ổn định triều chính do ông đưa ra không được vua Lê cho thi hành, Lương Đắc Bằng đã cáo quan về quê sống đời dạy học (1509). Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên chẳng bao lâu đã trở thành học trò xuất sắc nhất của người thầy họ Lương. Bởi vậy mà trước khi qua đời, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng đã trao lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ sách quý về Dịch học (Chu Dịch) là Thái Ất thần kinh đồng thời ủy thác người con trai Lương Hữu Khánh của mình cho Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy dỗ.

Thi cử và làm quan dưới triều Mạc

Lớn lên trong thời đại loạn ( quá trình triều Lê sơ rơi vào khủng hoảng cục bộ, suy tàn ), không muốn đi lại vết xe cũ của người thầy Lương Đắc Bằng nên từ khi trưởng thành cho đến khi ra ứng thí ( 1535 ), suốt hơn 20 năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bỏ lỡ tới 9 kỳ đại khoa ( trong đó có 6 khoa thi dưới triều Lê sơ ). Ngay cả khi nhà Mạc lên thay nhà Lê sơ ( 1527 ), xã hội dần đi vào không thay đổi nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không vội vã ra ứng thí ( ông không tham gia 2 khoa thi tiên phong dưới triều Mạc ). Tới năm Đại Chính thứ sáu ( 1535 ) đời Mạc Thái Tông ( Mạc Đăng Doanh ) thịnh trị vương đạo nhất triều Mạc, ông mới quyết định hành động đi thi và đậu ngay Trạng nguyên. Năm ấy ông đã 45 tuổi. Ngay sau khi đỗ đạt, ông được chỉ định làm Đông Các hiệu thư ( chuyên việc soạn thảo, thay thế sửa chữa những văn thư của triều đình ) rồi sau được cử giữ nhiều chức vụ khác nhau như Tả thị lang bộ Hình, Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông những Đại học sĩ. Nhưng sự qua đời bất ngờ đột ngột của Mạc Thái Tông vào năm Đại Chính thứ 11 khi mới 41 tuổi ( 1540 ) đã kết thúc quy trình tiến độ được coi là thịnh trị nhất dưới triều Mạc đồng thời Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng mất đi một chỗ dựa vững chãi cho việc thực thi những tham vọng trị quốc của mình. Nhân lúc triều chính nhiễu nhương chia bè kết phái do Mạc Hiến Tông ( Mạc Phúc Hải ) còn ít tuổi lên thay vua cha nhưng chưa đủ năng lượng điều hành chính sự, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ trị tội 18 lộng thần ( trong đó có cả con rể của ông là Phạm Dao làm Trấn thủ Sơn Nam ) nhưng không được vua đồng ý chấp thuận. Bởi vậy, năm 1542 ông xin về quê trí sĩ sau 8 năm làm quan tại triều đình .Sau hai năm về trí sĩ, tới năm Giáp Thìn ( 1544 ), vua Mạc lại cho người về phong tước Trình Tuyền Hầu cho ông, rồi sau lại thăng ông thăng quan tiến chức Thượng thư bộ Lại, Thái phó, tước Trình Quốc Công. Do vậy mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Một số nhà nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng nguồn gốc của tên gọi Trình Tuyền ( gắn với tước hiệu Trình Tuyền Hầu và Trình Quốc Công của ông ) là bắt nguồn từ tên địa điểm của làng Trung Am từ trước chứ không phải là bắt nguồn từ họ tên người theo ý hiểu rằng ” Nguyễn Bỉnh Khiêm là người hiểu rõ suối nguồn Lý học của họ Trình ( tức Trình Di và Trình Hạo ) đời Tống bên Trung Quốc ” .

Gần hai chục năm từ năm 53 tuổi tới 73 tuổi,[38] Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy không ở hẳn kinh đô nhưng vẫn cáng đáng nhiều việc triều chính, lúc bàn quốc sự, lúc theo xa giá nhà vua đi dẹp loạn, vua Mạc tôn kính ông như bậc quân sư. Những việc trọng đại nhà vua thường sai sứ giả về hỏi (trong đó có lời khuyên nổi tiếng đã đi vào sử sách: Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế (Đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng dựa vào đó có thể kéo dài được vài đời)), có khi lại đón ông lên kinh để bàn việc, xong rồi ông lại trở về làng Trung Am. Ngoài 73 tuổi, ông mới chính thức treo ấn từ quan, về quy ẩn nơi quê nhà. Trạng nguyên, Tô Khê hầu Giáp Hải một người bạn lâu niên với Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm thơ ca ngợi tài đức cũng như công lao của ông đối với triều Mạc, trong đó có những câu như “Lực phù nhật cốc trụ kình thiên” (năng lực phò vua như cột chống đỡ trời) hay “Tứ triều huân nghiệp nhân trung kiệt” (một tay anh kiệt huân nghiệp trải bốn triều vua).

Trong những năm trí sĩ cũng như thời hạn quy ẩn tại quê nhà, ông đã cho dựng am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân, làm cầu Nghinh Phong, Trường Xuân cho dân qua lại thuận tiện và mở trường dạy học cạnh sông Tuyết ( còn có tên là sông Hàn ). Vì vậy mà về sau những môn sinh tôn ông là ” Tuyết Giang phu tử “. Học trò của ông có nhiều người hiển đạt sau này như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, Hàn Giang cư sĩ Nguyễn Văn Chính ( con trai cả của ông ). [ 39 ]

Những năm cuối đời

Ngày 28 tháng 11 năm Ất Dậu, niên hiệu Đoan Thái nguyên niên ( 1585 ), ông tạ thế tại quê nhà ở tuổi 95, đây là tuổi thọ hiếm có đương thời. Trước khi qua đời, ông còn dâng sớ lên vua Mạc : ” … Thần tính độ số thấy vận nước nhà đã suy, vận nhà Lê đến hồi tái tạo, ý trời đã định, sức người khó theo. Song nhân giả hoàn toàn có thể hồi thiên ý, xin nhà vua hết lòng tu nhân phát chính, lấy dân làm gốc, lấy nước làm trọng, trong sửa sang văn trị, ngoài chuyên cần võ thuật, may ra giữ được cơ nghiệp tổ tiên, thì thần chết cũng được thỏa lòng “. Bấy giờ vua Mạc Mậu Hợp cử Phụ chính đại thần Ứng vương Mạc Đôn Nhượng cùng văn võ bá quan về lễ tang để tỏ sự trọng thị. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang đã nói lên sự trân trọng rất lớn của triều Mạc với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Triều đình lại sai cấp ruộng tự điền trăm mẫu, đồng thời cấp ba nghìn quan tiền để lập đền thờ ông tại quê nhà, đích thân vua đề chữ lên biển gắn trước đền thờ là ” Mạc Triều Trạng nguyên Tể Tướng Từ ” .

Gia đình và hậu duệ

Theo bản Phả ký (Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký) do Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân soạn năm 1743, Nguyễn Bỉnh Khiêm có cả thảy ba người vợ và 12 người con, trong đó có bảy người con trai. Cũng giống như cha, hầu hết các con trai của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều theo phò tá nhà Mạc. Bởi vậy sau khi nhà Mạc bị thất thủ dưới tay nhà Lê-Trịnh (1592), con cháu ông đều phải thay tên đổi họ, li tán thập phương. Một chi họ do người con trai cả của ông là Hàn Giang hầu Nguyễn Văn Chính đứng đầu đã di cư về vùng Trường Yên thuộc đất Hoa Lư, Ninh Bình ngày nay và đổi từ họ Nguyễn sang họ Giang nhằm tránh sự trả thù của nhà Lê-Trịnh. Lúc sinh thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cử người con trai thứ 7 (con trai út) dẫn người cháu đội bát hương sang sinh cơ lập nghiệp ở làng An Tử Hạ, xã Kiến Thiết bên quê ngoại để trông coi phần mộ và thờ phụng ông bà ngoại Nhữ Văn Lan cùng mẹ Nhữ Thị Thục rồi về sau tạo thành một chi họ Nguyễn hậu duệ của Trạng Trình trên đất Tiên Lãng ngày nay.

Trong suốt thời kỳ dài cho tới nay, việc xác lập khu vực an táng thật của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một yếu tố được nhiều thế hệ con cháu ông và những nhà nghiên cứu huyền học – tâm linh ( dịch lý, tử vi & phong thủy, ngoại cảm … ) tại Nước Ta chăm sóc, đặc biệt quan trọng kể từ sau khi đền thờ Trạng Trình được tôn tạo và lan rộng ra thành quần thể di tích lịch sử lịch sử vẻ vang – văn hoá vào năm 2000. Tuy nhiên cho đến thời gian khu di tích lịch sử được nhà nước xếp hạng Di tích vương quốc đặc biệt quan trọng vào đầu năm năm nay, vẫn chưa có công bố chính thức của những cơ quan có thẩm quyền trước những phương tiện đi lại truyền thông online. Không ít nhà nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng việc đi tìm mộ thật của ông sẽ mãi là một huyền bí cũng như nhiều huyền bí hay những vướng mắc chưa được giải đáp xung quanh cuộc sống và sự nghiệp của một trong những con người có ảnh hưởng tác động nhất của lịch sử dân tộc trung đại Nước Ta .

Tác phẩm

Thể loại sáng tác

Thơ chữ Hán

Về thơ chữ Hán, ông có Bạch Vân am thi tập, theo ông cho biết là có khoảng một nghìn bài, nay còn lại khoảng 800 bài. Trong lời đề tựa cho tập thơ chữ Hán của mình, ông đã viết: “… Tuy nhiên cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy. Mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy, hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, được tất cả nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên là Tập thơ am Bạch Vân” (Bạch Vân am thi tập tiền tự).

Thơ chữ Nôm

Về thơ chữ Nôm, ông có Bạch Vân quốc ngữ thi tập (còn gọi là Trình quốc công Bạch Vân quốc ngữ thi tập), chính ông ghi rõ sáng tác từ khi về nghỉ ở quê nhà, nhưng không cho biết có bao nhiêu bài, hiện còn lại khoảng 180 bài. Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm làm theo thể Đường luật và Đường luật xen lục ngôn nhưng ông thường không đặt tiêu đề cụ thể cho từng bài mà việc đó được thực hiện bởi những nhà biên soạn sau này. Theo Phả ký (Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký) của Vũ Khâm Lân, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có bài phú bằng quốc âm nhưng nay đã bị thất lạc.

Các thể loại khác

Ngoài di sản văn học với hơn 800 bài thơ (cả chữ Hán và chữ Nôm) còn lưu lại đến ngày nay, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng để lại nhiều bài văn bia (bi ký) nổi tiếng như Trung Tân quán bi ký, Thạch khánh ký, Tam giáo tượng bi minh… Hầu hết bia đá ông cho khắc lúc sinh thời đã bị thất lạc hay hư hại qua hàng thế kỷ nhưng nhiều bài văn bia nhờ được người đương thời chép lại mà còn lưu đến hôm nay. Một số văn bia do Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn và cho khắc đá đã được tìm thấy vào năm 2000 tại huyện Quỳnh Phụ của tỉnh Thái Bình (nằm giáp với huyện Vĩnh Bảo của Hải Phòng qua sông Hóa).

Trong dân gian còn lưu hành nhiều câu sấm Trạng. Các tập sấm ký Nôm thường mang tên Trạng Trình (Sấm Trạng Trình) và phần lớn viết theo thể lục bát như Trình quốc công sấm ký, Trình tiên sinh quốc ngữ. Sấm Trạng Trình là một hiện tượng văn học cần phải được tìm hiểu và xác minh thêm.

Giá trị tư tưởng và thẩm mỹ và nghệ thuật

Trong lịch sử vẻ vang dân tộc bản địa Nước Ta, Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhìn nhận là một trong những nhà văn hóa lớn của dân tộc bản địa. Ông là một chính khách có uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên tri … Nhưng ông cũng đồng thời là một tác gia lớn có những góp phần quan trọng trong sự tăng trưởng của văn học dân tộc bản địa. Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm đa dạng chủng loại, gồm cả chữ Hán và chữ Nôm. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn, không riêng gì của thế kỷ XVI. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng tác động sâu rộng, ảnh hưởng tác động tích cực vào đời sống ý thức của nhân dân và góp thêm phần thôi thúc sự tăng trưởng của tiến trình văn học dân tộc bản địa .

Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân trong bài Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký soạn năm 1743, có đôi dòng nhận định về di sản thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “không cần gọt dũa mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà có nhiều ý vị… như gió mát trăng thanh, nghìn năm sau còn tưởng thấy”. Danh sĩ thời nhà Nguyễn là Phan Huy Chú trong bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí ở phần Văn tịch chí cũng gần như có chung quan điểm với Vũ Khâm Lân khi nhận xét về thơ văn Trạng Trình: “thanh tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên”.

Như PGS.TS. Trần Thị Băng Thanh ( Viện Văn học ) đã nhìn nhận, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ viết nhiều nhất trong năm thế kỷ đầu của nền văn học viết Nước Ta. Về số lượng mà xét thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà giải quán quân. Tuy nhiên yếu tố không chỉ là số lượng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có một phong thái thơ riêng không lẫn. Ai cũng biết một nguyên tắc thẩm mỹ quan trọng của thơ thời trung đại là ” thơ ngôn chí “, nguyên tắc mà những nhà nghiên cứu văn minh thường xem là làm hạn chế tính nghệ thuật và thẩm mỹ của thơ và ngay những nhà thơ cổ cũng không phải đều nhất nhất tuân theo. Thế nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tuân theo một cách ” triệt để ” và với một cảm hứng phát minh sáng tạo can đảm và mạnh mẽ. Với ông, đề vịnh, tự sự, tự thuật cũng đều để ngôn chí, và phong thái riêng của ông cũng được xác lập chính từ những vần thơ ngôn chí ấy. Thơ văn của ông biểu lộ sự ưu thời mẫn thế, đậm chất triết lý, giáo huấn nhưng vẫn thân thiện và dễ đảm nhiệm .Theo nhìn nhận của GS. Nguyễn Huệ Chi trong bài tham luận ” Bước đầu tâm lý về Văn học Mạc “, thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ghi lại cho sự khởi đầu của một hình thức tư duy mới trong tiến trình hoàn thành xong thơ ca trung đại Nước Ta. Đó là tư duy thế sự. Thơ vẫn mang tính trữ tình nhưng là ” trữ tình lý trí “. Nó mang hình thức không phải là tư duy cảm tính mà là tư duy lý tính, nhìn thẳng vào xã hội nên gọi là tư duy thế sự. Bởi vậy thơ có tính phát hiện, hiện thực rất đáng kể. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn sâu vào những ngóc ngách của xã hội để thấy bức tranh phức tạp của xã hội mà bức tranh ấy diễn ra một cách tự nhiên bởi nó là bức tranh xã hội có thực. Vì là tư duy thế sự nên cũng nhìn sâu vào tâm ý con người. Trong khi ở thời trước đó ( nổi bật là thời của Lê Thánh Tông ) mọi thứ trong xã hội đều được ước lệ hoá, công thức hoá, được mỹ hoá thành một xã hội chung chung đâu cũng như nhau .Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là người xứng danh thừa kế và tăng trưởng truyền thống lịch sử thi ca dân tộc bản địa kể từ sau thời Nguyễn Trãi, góp thêm phần giúp nó đạt đến mức độ hoàn thành xong cao dưới thời Nguyễn Du, đồng thời bổ trợ vào đó đậm đặc hơn, chất triết lý, suy tưởng và giáo huấn, để thơ trở thành một công cụ hữu dụng, Giao hàng con người, phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng một cách thâm thúy, với cái nhìn khái quát của một triết gia, trong đó có những chiêm nghiệm từng trải của cá thể ông. Giàu chất trí tuệ, thơ ông là những khát vọng muốn tò mò những quy luật của vạn vật thiên nhiên, xã hội và của cả con người, nhằm mục đích tự vượt thoát ra khỏi những bế tắc của một thời và có ảnh hưởng tác động thâm thúy tới tận ngày thời điểm ngày hôm nay, cả về tư tưởng và nghệ thuật và thẩm mỹ của thơ, cả về tầm vóc văn hóa truyền thống và nhân cách của một nhà thơ, được bộc lộ rõ nét nhất qua Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các học giả như GS. Nguyễn Huệ Chi ( Viện Văn học ) và PGS.TS. Trần Nguyên Việt ( Viện Triết học ) có chung quan điểm khi cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là người khởi đầu cho tư duy biện chứng trong lịch sử vẻ vang tư tưởng Nước Ta dưới cái nhìn mang đậm tính triết học biểu lộ qua thơ văn của ông .Ngoài những sáng tác thơ ca còn lưu truyền, những văn bia do Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn và cho khắc đá không chỉ có giá trị về mặt lịch sử dân tộc hay khảo cổ mà còn tiềm ẩn nhiều giá trị về mặt tư tưởng cũng như nhân sinh quan của ông. Một trong số những bài văn bia có giá trị nhất là bài đề tại quán Trung Tân do Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn với nội dung như sau : ” … Tôi viết biển đề tên Quán Trung Tân. Có người hỏi tôi : Quán tên là Trung Tân có ý nghĩa như thế nào ? Tôi vấn đáp rằng : Trung là đạo trung, giữ được toàn Thiện là Trung, trái lại thì không phải là Trung. Còn Tân là bến để đậu, biết chỗ bến đậu đúng thì là bến chính, nếu đậu sai chỗ là bến mê … Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ chí Thiện … Xin ghi vào đá để lưu lại lâu dài hơn. Tháng Mạnh xuân, niên hiệu Quảng Hoà thứ ba ( 1543 ) Tiến sĩ cập đệ khoa Ất Mùi ( 1535 ) Lại bộ Tả thị lang kiêm Đông những Đại học sĩ Tư chính Khanh Trung Am, Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn ” ( Bản dịch của nhà sử học Ngô Đăng Lợi ). Qua bài văn bia này, ông không chủ trương trung với một cá thể nào dù đó là một ông vua, mà là trung với lẽ phải, với chân lý, với điều thiện và với nghĩa vụ và trách nhiệm mà mình phải triển khai .

Di ngôn, bút tích

  • Ôi, nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là để nói chí. Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật. Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí thích nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui, rất là vụng về trong nghề thơ. Tuy nhiên, cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy, mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vinh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, được cả thảy một nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên là Tập thơ am Bạch Vân. (Bạch Vân am thi tập tự)
  • Quán dựng xong, đề biển là Quán Trung Tân. Có người hỏi: lấy tên quán như vậy ý nghĩa thế nào? Ta trả lời rằng: Trung nghĩa là Trung Chính vậy. Giữ được toàn vẹn Tính Thiện của mình là Trung vậy, không giữ toàn vẹn được tính Thiện của mình thì không phải là Trung vậy. Tân tức là Bến vậy. Biết chỗ dừng đó là đúng bến, không biết chỗ dừng thì là lạc bến vậy. Tên gọi của quán này đại thể là như thế. Như trung với vua, hiếu với cha mẹ, thân ái với anh em, hòa hợp vợ chồng, tín với bạn bè, đó là Trung vậy. Đối diện với của cải mà không tham, thấy lợi mà không tranh giành, vui với điều thiện mà bao dung được người, lấy tình thực mà ứng đãi với mọi vật, đó cũng là Trung vậy… Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện vậy. (Trung Tân quán bi ký 中津館碑記, 1543)
  • Do tự ràng buộc ở bẩm khí, bị che lấp vì vật dục, có kẻ không giữ được trọn vẹn như thuở đầu mới sinh ra, trở nên kiêu sa, biển lận, gian tà, thiên lệch, không có điều gì không làm. Ở triều đình thì tranh nhau cái danh, ở chợ búa thì giành nhau cái lợi. Khoe là sang thì xe mát quán ấm, khoe là giàu thì nhà múa lầu hát. Thấy người chết đói dọc đường không dám bỏ một đồng tiền ra cứu giúp. Thấy nơi trống trải không có gì che mưa, không dám bỏ một bó tranh để che đậy. Điều thiện không được tu dưỡng đã lâu vậy… May mà trong làng người hướng về điều Thiện chưa hề mất hết. Các cụ già cùng ta khuyên nhau làm điều thiện: bắc cầu, làm chùa, làm quán, chốn chốn đều được tu sửa. Ta cũng lấy làm vui mừng về điều ấy, trong lòng thường khen ngợi. (Trung Tân quán bi ký 中津館碑記, 1543)
  • …Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. (Diên Thọ kiều bi ký, 1568)[8]
  • Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân (Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với sứ giả của Đoan Quận công Nguyễn Hoàng)[40]
  • Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế (Nguyễn Bỉnh Khiêm nói với sứ giả của vua Mạc)
  • Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong (Nguyễn Bỉnh Khiêm nói về mối quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh)
  • Vạn lý Đông minh quy bả ác / Ức niên Nam cực điện long bình (trích từ bài “Cự Ngao Đới Sơn” trong “Bạch Vân Am Thi Tập”)[41]
  • Tứ bách niên tiền, chung phục thuỷ / Thập tam thế hậu, dị nhi đồng (Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về con cháu họ Mạc)[42]
  • Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại / Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam (Thơ gửi Trạng nguyên, Tô Khê hầu Giáp Hải)
  • Tiền trình vĩ đại quân tu ký / Thùy thị phương danh trọng Việt Nam (Thơ gửi Trạng nguyên, Thư Quốc công Nguyễn Thiến)
  • Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ / Hưng tộ diên trường ức vạn xuân (Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về thời vận mới của nước Việt)[43]
  • Cổ lai quốc dĩ dân vi bản / Đắc quốc ưng tri tại đắc dân (Thơ chữ Hán, Cảm hứng)[44]
  • Cổ lai nhân giả tư vô địch / Hà tất khu khu sự chiến tranh (Thơ chữ Hán)[45]
  • Lão lai vị ngải tiên ưu chí / Đắc táng cùng thông khởi ngã ưu (Tự thuật, thơ chữ Hán)[46]
  • Nho quan tự tín đa thâm ngộ / Đình thực thùy năng vị quốc mưu (Thơ chữ Hán, Ngụ hứng)[47]
  • Tất cánh dục cầu ngô lạc xứ / Tri ngô hậu lạc tại tiên ưu (Thơ chữ Hán, Ngụ hứng)[48]
  • Ưu thời thốn niệm bằng thùy tả / Duy hữu hàn san bán dạ chung (Tân quán ngụ hứng, thơ chữ Hán)[49]
  • Duy thiên sinh chưng dân / Bão noãn các hữu dục (Tăng thử, thơ chữ Hán)[50]
  • Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ? / An nhàn ngã thị địa trung tiên[51]
  • Chín mươi thì kể xuân đà muộn / Xuân ấy qua thì xuân khác còn (Bạch Vân quốc ngữ thi, bài 41)
  • Có thuở được thời mèo đuổi chuột / Đến khi thất thế kiến tha bò (Thơ chữ Nôm, Bài số 75)
  • Thớt có tanh tao ruồi đậu đến / Ang không mật mỡ kiến bò chi (Thơ chữ Nôm, Bài số 53)
  • Hoa càng khoe nở, hoa nên rữa / Nước chứa cho đầy, nước ắt vơi (Thơ chữ Nôm, Bài số 52)
  • Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn, nhạt, chua, cay, lẫn ngọt bùi (Thơ chữ Nôm, Bài số 77)
  • Làm người hay một chớ hay hai / Chớ cậy rằng hơn, chớ cậy tài (Thơ chữ Nôm, Bài số 65)
  • Làm người chớ thấy tài mà cậy / Có nhọn bao nhiêu lại có tù (Thơ chữ Nôm, Bài số 11)
  • Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao (Thơ chữ Nôm, Bài số 79)
  • Làm người có dại mới nên khôn / Chớ dại ngây si, chớ quá khôn (Thơ chữ Nôm, Bài số 94)
  • Chớ cậy rằng khôn khinh rẻ dại / Gặp thời, dại cũng hoá ra khôn (Thơ chữ Nôm, Bài số 94)
  • Thuở khó dẫu chào, chào cũng lảng / Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen (Thơ chữ Nôm, Bài số 5)
  • Đạo ở mình ta lấy đạo trung / Chớ cho đục, chớ cho trong (Thơ chữ Nôm, Bài số 104)
  • Lưỡi thế ngẫm xem, mềm tựa lạt / Miệng người toan lại, sắc như chông (Thơ Nôm, bài 127)
  • Rượu đến cội cây ta sẽ uống / Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
  • Có ai biết được lòng tri kỷ / Vời vợi non cao nguyệt một vừng

Tiên tri và sấm ký

Khi theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần kinh từ đó ông tinh thông về lý học, tướng số… Sau này, dù Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa. Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình Quốc công. Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được biến cố xảy ra đến 500 năm sau, được dân gian truyền tụng và suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam.

Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn gọi là “Sấm Trạng Trình” là những lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm (từ năm 1509 đến khoảng năm 2019). Đây là những dự báo thiên tài, hợp lý, tùy thời, tự cường, hướng thiện và lạc quan theo lẽ tự nhiên “thuận thời thì an nhàn, trái thời thì vất vả”. “Trạng Trình đã nắm được huyền cơ của tạo hóa” (lời Nguyễn Thiếp – danh sĩ thời Lê mạt). “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (lời Chu Xán- sứ giả của triều Thanh). Sấm ký, giai thoại và giải đoán chứa đựng nhiều thú vị về một trí tuệ bậc Thầy kỳ tài muôn thuở, nặng lòng yêu nước thương dân và sâu sắc hiếm thấy.

Sấm ký ở bản A có 262 câu, gồm 14 câu ” cảm đề ” và 248 câu ” sấm ký “. Đây là bản trích ở bộ ” Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển ” ( tập 2 ) của Trịnh Văn Thanh – Hồ Chí Minh – 1966. Ngoài bản A còn có tối thiểu ba dị bản về sấm Trạng Trình. Tài liệu tương quan hiện có 20 văn bản, trong đó bảy bản là tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Khoa học Xã hội ( trước kia là Viện Viễn Đông Bác Cổ ) và Thư viện Quốc gia Thành Phố Hà Nội và 13 tựa sách quốc ngữ về sấm Trạng Trình xuất bản từ năm 1948 đến nay. Bản tiếng quốc ngữ phát hiện sớm nhất có lẽ rằng là Bạch Vân Am thi văn tập in trong Quốc Học Tùng Thư năm 1930 mà lúc bấy giờ vẫn chưa tìm được .Sấm ký gắn với những giai thoại và thực sự lịch sử dân tộc. Nhiều nội dung trong sấm ký hiện đã được giải thuật, chứng tỏ tính đúng đắn của những quy luật – Dự kiến học trong Kinh Dịch và Thái Ất thần kinh “. Đến nay đã có 36 giai thoại và thực sự lịch sử vẻ vang về Sấm Trạng Trình đã được giải thuật .Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, vua Phật Trần Nhân Tông ( 1258 – 1308 ) là người rất coi trọng phép biến Dịch. Người đã viết trong ” Cư trần lạc đạo ” : ” Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim “. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với ” Thái Ất thần kinh “, ” Sấm ký “, ” Bạch Vân Am thi văn tập “, ” lịch sử một thời và di tích lịch sử lịch sử dân tộc ” đã lưu lại cho dân tộc bản địa Nước Ta và quả đât một gia tài văn hoá vô giá .

Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê. Khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (có tài liệu viết là “khả dĩ dung thân”) nghĩa là “Một dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài”. Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá. Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc “Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể” (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa. Đối với Lê – Trịnh, khi vua Lê Trung Tông chết không có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ông. Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là nói với bề tôi họ Trịnh: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản” (ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe theo, sai người tìm người tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Lê Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”.

Theo một số nhà sưu tầm và nghiên cứu, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã được Trạng Trình dự báo qua câu thơ: “Đầu Thu gà gáy xôn xao/ Trăng xưa sáng tỏ soi vào Thăng Long”. ở câu 1, “đầu Thu” là tháng 7 Âm lịch, “gà” nghĩa là năm Ất Dậu, thời điểm sự kiện diễn ra, “gáy xôn xao” nghĩa là có tiếng vang lớn, thức tỉnh muôn người. Ở câu 2, “Trăng xưa” nghĩa là “cổ nguyệt” theo Hán tự, ghép lại thành từ “hồ”, là họ của Hồ Chí Minh. “Sáng tỏ soi vào Thăng Long” là sự kiện Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình của thủ đô Thăng Long – Hà Nội[52].

Tuy nhiên, có một số lượng không nhỏ những nhà nghiên cứu dịch học tại Nước Ta, trong đó có GS. Nguyễn Tài Thư có quan điểm bác bỏ hầu hết những gì được gọi là trước tác sấm ký của Nguyễn Bỉnh Khiêm : ” … Nhờ “ lý ” đó mà Nguyễn Bỉnh Khiêm dự kiến và yêu cầu được nhiều sự kiện có đặc thù lịch sử dân tộc đương thời, như trong lúc nước lửa, ông khuyên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá để khỏi bị anh rể là Trịnh Kiểm bức hại, khuyên chúa Trịnh phải phò vua Lê thì mới giữ được ngôi báu, khuyên nhà Mạc dời lên Cao Bằng để duy trì thêm vài triều đại nữa, v.v.. Các sự kiện trên đã trở thành hiện thực, đã được lịch sử vẻ vang chứng tỏ là đúng đắn. Sử sách đã ghi chép nhiều. Mọi người phần nhiều đều biết. Nhưng năng lực biết trước có cơ sở hiện thực đó của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng gây cho một số ít người vướng mắc, muốn gán sức thần cho ông. Thực ra ở đó chỉ là loại sản phẩm của một đầu óc suy lý, là hiệu quả của một sự nghiên cứu và phân tích biết dựa vào thực tiễn, biết nắm lấy thời thế và biết phát huy tư tưởng “ lý ” của ông. Một người học rộng biết nhiều, nắm vững lịch sử dân tộc dân tộc bản địa, lại dùng “ lý ” để xem xét sự vật thì những kiến giải trên không có gì là quá kinh ngạc. Từ năng lực biết trước như trên của ông, có người còn tiến tới phú cho ông là nhà tiên tri kiểu Đạo giáo, nhà tiên thiên học có năng lực làm ra những lời sấm dự báo được tương lai xa xôi. Bao nhiêu cuốn “ Sấm ký Trạng Trình ” đang được lưu truyền là thuộc loại đó. Thực ra đây chỉ là những lời đồn đại, những sự gán ghép vô lối về ông. Đó chỉ là do tâm ý sùng bái danh nhân của một số ít người còn mang nặng tư duy thần bí, đã khoác tấm áo siêu nhiên cho ông, hoặc đó là tác dụng của một mưu đồ chính trị, bịa ra sự kiện, tận dụng tên tuổi của ông để triển khai thủ đoạn, thường là việc làm của người đời sau. Cách làm đó không những không tôn vinh được vai trò của ông mà còn làm hại uy tín của ông. Sở dĩ nói hiện tượng kỳ lạ “ sấm ký ” là bịa đặt, do tại trong thực tiễn khách quan thì nhiều mẫu mã và phức tạp, cái tất yếu đi liền với vô số cái ngẫu nhiên, khiến con người khó lần ra manh mối. Bản thân Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã nhiều lần nói lên sự hạn chế của mình và của con người nói chung trong nhận thức và hành vi. Ông nói : “ Cùng và thông, được và mất, lẽ nào do con người quyết định hành động ? ” ( Cùng thông, đắc táng khởi do nhân ? – Tự thuật, bài 8 ), “ Cùng và thông, được và mất cũng là do trời ! ” ( Cùng thông, đắc táng diệc do thiên – Trung Tân ngụ hứng ), “ Việc trái với thời, hàng vạn chỗ sự không tương đồng ” ( Sự dữ thời vi vạn sự không tương đồng – Nguyên đán ngẫu thành, bài 3 ), “ Đời người mười mong ước thì đến chín là trái ý ” ( Nhân sinh thập nguyện cửu thường vi – Hoài cổ ). Một sự thực như thế thì làm thế nào ông lại biết trước được những vấn đề đơn cử ở bên ngoài mà bản thân không được mục kích, không chỉ có vậy lại cách xa hàng trăm năm sau như “ Sấm ký Trạng Trình ” ghi chép ! ? ” [ 53 ]

Ảnh hưởng và di sản

Những góp phần trong tiến trình tăng trưởng của ngôn từ văn chương và lịch sử vẻ vang tư tưởng Nước Ta

Là một trung thần của nhà Mạc, triều đại đối địch hoàn toàn với quyền lợi của các dòng họ thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn (vốn cùng phát tích từ xứ Thanh) của nhà Lê trung hưng và cả nhà Nguyễn về sau, bởi vậy sau khi nhà Mạc thất thủ (1592), sự nghiệp cũng như di sản văn hóa của Nguyễn Bỉnh Khiêm không tránh được cái nhìn thiên kiến của đại bộ phận những sử gia, học giả dưới thời cai trị của các họ Lê-Trịnh rồi họ Nguyễn trong nhiều thế kỷ. Như nhà nghiên cứu Trần Khuê (Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc, 1991) đã lưu ý: “…Cũng như việc Lê Quý Đôn ghi đủ loại chư thần và nghịch thần, và trong Kiến văn tiểu lục, mục Tài phẩm (tài năng và phẩm hạnh), ông ghi mấy chục danh nhân kể cả một số người đã làm quan với “ngụy Mạc” như Lễ bộ thượng thu Hà Nhậm Đại, nhưng tài năng, phẩm hạnh, hành trạng… của Lại bộ thượng thư Thái phó Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thì ông không ghi chép. (Có những nhân vật ít nổi tiếng như Lê Bá Ly mà Lê Quý Đôn ghi về tài năng phẩm hạnh 2 trang giấy đặc tới hơn 500 chữ, một số nhân vật khác cũng còn được một vài trăm chữ. Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm thì không được ghi tiểu truyện). Lê Quý Đôn chỉ ghi về Nguyễn Bỉnh Khiêm rất sơ sài: Một lần ghi về thi đỗ, một lần ghi về “trí sĩ”, một lần ghi về “tên tác phẩm”. Thế thôi? À, có thêm một lần ông ghi ý kiến của Chu Xán về Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hồi đầu niên hiệu Khang Hy, nhà Thanh sai Minh Đồ và Chu Xán sang nước ta sách phong, lúc ấy là năm Chính Hòa thứ tư (1683).” Những cái nhìn theo hướng như vậy cũng được phần lớn giới nghiên cứu hiện đại ở Việt Nam duy trì cho tới đầu thập niên cuối cùng của thế kỷ 20. Trong suốt một thời gian dài cho tới cuối thập niên 1980, cách đánh giá của giới nghiên cứu “chính thống” tại Việt Nam về sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm bị ảnh hưởng lớn bởi cái nhìn thiên kiến về vai trò lịch sử của vương triều Mạc bắt đầu từ thời Lê trung hưng (1533) cho tới tận trước thời kỳ Đổi Mới.

GS. Vũ Khiêu trong bài viết “ Kỷ niệm 400 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm : Những yếu tố khoa học trong điều tra và nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm ” ( 1985 ) [ 54 ] đã có những nhìn nhận mang tính tổng kết về những góp phần quan trọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong dòng chảy của lịch sử vẻ vang thơ văn Nước Ta : “ … Trước hết, phải thấy rằng suốt bao nhiêu thế kỷ học chữ Hán và làm thơ bằng chữ Hán, những nhà trí thức Nước Ta trước những khó khăn vất vả về ngôn từ và thể loại đã lẩn tránh việc cố gắng nỗ lực làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ. Trước sự phát minh sáng tạo của Nguyễn Thuyên, sự chăm sóc đặc biệt quan trọng của Nguyễn Trãi, thành quả trong bước đầu của Lê Thánh Tông và nhóm Tao Đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã suốt cuộc sống dành bao tận tâm để làm thơ bằng tiếng Việt. Không chỉ nói với đồng bào mình những điều muốn nói. Ông cũng như Nguyễn Trãi đã đem hết nhiệt tình kiến thiết xây dựng nền văn học dân tộc bản địa mà lòng yêu nước và óc tự cường đã hằng ngày thôi thúc những ông. Với một di sản lớn lao mà ông để lại, thơ Nôm của ông đã lưu lại một chặng đường vẻ vang trong lịch sử dân tộc văn học Nước Ta. Thơ văn ông vừa mang những nét mộc mạc và rắn chắc của thơ Nguyễn Trãi, vừa tiếp thu truyền thống cuội nguồn trau chuốt và thuần thục của thơ Lê Thánh Tông và nhóm Tao Đàn. Thơ của ông chính là sự chuẩn bị sẵn sàng thiết yếu cho sự tăng trưởng rực rỡ tỏa nắng của thơ Nôm thế kỷ XVIII. Có lẽ đầy lòng tự hào về tinh hoa và tiềm năng của dân tộc bản địa trong thơ ca dân gian Nước Ta mà ông đã đưa vào tràn ngập trong thơ ông những lời đẹp nhất của ca dao, tục ngữ. Thơ của ông hướng vào đời sống hằng ngày của nhân dân mà ông thân thiện và yêu quý. Có lẽ do đó mà thơ Nôm của ông ít những lời sáo rỗng về phong, hoa, tuyết, nguyệt, và lại đi vào lòng người với những nét rất thân thương của những đồ vật, những rau cỏ, những chim muông gặp gỡ hằng ngày … Phải chăng vì thân thiện với đời sống như vậy, ông đã thuộc tên từ cụ già đến trẻ nhỏ, đi vào niềm vui và nỗi lo của từng người, và từ đó đưa vào thơ một tính nhân dân thâm thúy … Di sản văn học của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tấm gương soi của xã hội ông, của cuộc sống ông. ”

Nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong một bài phân tích cụ thể về phong cách thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm đăng trên Tạp chí Sông Hương (số 35, T.1&2-1989) đã nhận định: “…Ông là một ẩn sĩ nhưng không phải một ẩn sĩ Ấn Độ chạy vào núi sống để thờ thần linh, không phải một ẩn sĩ Trung Quốc quay lưng với chính trị, tự thổi phồng mình, tự tôn thờ mình. Thơ ông chẳng có gì là huênh hoang của thơ triết lý Trung Quốc. Ông quay về sống trong vòng tay của làng mạc họ hàng, dạy học trò, bình dị, khiêm tốn, như cha ông chúng ta… Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm là thế. Con người lỗi lạc về lý học đến mức sứ thần Trung Quốc là Chu Xán phải phục chẳng hề nhắc đến một thuật ngữ lý học: tính, khí, ly, tâm… Nhân vật mà truyền thuyết nâng lên địa vị một tiên tri, biết trước hậu thể năm trăm năm chẳng hề nói bóng gió gì đến hậu vận. Ông trạng nguyên hay chữ nhất nước chẳng thiết gì đến chữ nghĩa, điển tích từ chương. Con người được cả thời đại tôn sùng chẳng buồn nhắc tới danh tiếng của mình. Thậm chí ông không nhắc đến cá nhân mình. Đây là một phong cách lạ, trước ông không có mà sau ông cũng không. Nhưng ông hiểu được cái bí quyết để giành được lòng tin của hậu thế. Phải gạt bỏ mọi “bánh vẽ” của cuộc đời (công danh, chức tước, chữ nghĩa, trang tức) để xuất hiện giản dị và chân thành. Không rên la, thậm chí không thở dài, không đóng vai một người thuyết phục, giáo dục. Hãy quên cái con người của cương vị xã hội (bằng tôi, nhà sư, nho sĩ…) để làm con người trong lòng mọi người. Chính vì vậy thơ ông lần đầu tiên trong văn học ta nói với mọi người. Nếu muốn nói đến ý nghĩa triết học của thơ ông thì nó là ở đấy… Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải loại thơ đọc để nhìn, để nghe. Ông là con người duy nhất của văn học ta chủ trương một đường lối nghệ thuật riêng: nghệ thuật là để giúp con người tìm lại được chính mình, chân thành với mình và với xã hội. Khi nào ta hiểu được nhu cầu ấy, ta sẽ biết ơn phu tử và sẽ hiểu được giá trị của nhà thơ kiệt xuất.” (Tìm hiểu phong cách Nguyễn Bỉnh Khiêm qua một bài thơ, Tạp chí Sông Hương, 1989)

Như PGS. Nguyễn Hữu Sơn ( Viện Văn học ) đã nhìn nhận : “ Bên cạnh nhiều tác gia văn học lớn ở thế kỷ XVI như Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng, Hà Nhậm Đại, Phùng Khắc Khoan, Hoàng Sĩ Khải …, Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi lên như một hiện tượng văn hoá tiêu biểu vượt trội, một “ cây đại thụ ” văn hoá dân tộc bản địa thế kỷ XVI. Tư cách tác gia văn học – “ cây đại thụ văn hoá ” biểu lộ trước hết trên phương diện số lượng tác phẩm, mức độ thâu thái những giá trị văn hoá ý thức thời đại cũng như năng lực phối hợp giữa việc tinh lọc, nâng cấp vốn tri thức bác học với việc phổ cập, tạo tác động ảnh hưởng trong hàng loạt đời sống xã hội … Nguyễn Bỉnh Khiêm là mẫu sản phẩm văn hoá nổi bật của thế kỷ XVI – một thế kỷ nặng về chinh chiến và nhiều dịch chuyển nên phải lựa chọn một phương pháp ứng xử văn hoá khả dĩ hoàn toàn có thể phân phối được nhu yếu đời sống niềm tin vốn muôn phần phức tạp. Trên nhiều phương diện, ông trở thành thước đo tình hình đời sống niềm tin dân tộc bản địa ở một chặng đường lịch sử dân tộc, cây đại thụ văn hoá toả bóng xuống cả thế kỷ. Một mình ông buộc phải đóng nhiều vai diễn. Đồng thời với vốn kiến thức và kỹ năng cao siêu, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại vẫn thể hiện cái nhìn nhân ái, dân dã, hoà đồng với vạn vật thiên nhiên, cỏ cây hoa lá, làng thôn, trăng trong gió mát. Điều này góp thêm phần giải hoà dòng thơ duy lý, khơi mở nguồn cảm hứng nghệ sĩ thanh cao. Điều cũng rõ ràng là mặc dầu mang trong mình đầy những lẽ chưa ổn do thực trạng thời đại lao lý tuy nhiên Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn hiện hữu như một nhân cách lịch sử dân tộc chói sáng, một cây đại thụ văn hoá chính bởi sự kết tinh vốn kiến thức và kỹ năng sâu rộng trên cơ sở một tấm lòng chính trực, gắn bó thâm thúy với cội nguồn văn hoá dân tộc bản địa. Ông là hiện thân của mĩ học phong kiến cả trên phương diện nhân văn lẫn mặt hạn chế của nó. ”

Nhân kỷ niệm 425 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà thơ Trần Nhuận Minh (Ủy viên Hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam) trong bài viết “Nguyễn Bỉnh Khiêm: Nhà thơ lớn bóng trùm nhiều thế kỷ” (Báo Hải Dương Điện tử, 2010) đã phân tích một số điểm nổi bật trong di sản thi ca của ông: “Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỷ XVI. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinh thần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn học dân tộc. Về thơ chữ Hán, ông có Bạch Vân am thi tập, theo ông cho biết là có khoảng 1.000 bài, nay còn khoảng 700 bài. Về thơ chữ Nôm, ông có Bạch Vân quốc ngữ thi tập, chính ông ghi rõ sáng tác từ khi về nghỉ ở quê nhà, chúng ta không biết có bao nhiêu bài, hiện còn khoảng 170 bài, trong đó vài chục bài lẫn với thơ Nôm Nguyễn Trãi (1380-1422)… Ông đã kế thừa xứng đáng truyền thống thơ Lê Thánh Tông, đặc biệt là thơ Nguyễn Trãi và bổ sung vào đó, đậm đặc hơn, chất triết lý, suy tưởng và giáo huấn, để thơ trở thành một công cụ hữu ích, phục vụ con người, phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng sâu nặng lẽ đời, với cái nhìn khái quát của một triết gia, trong đó có những chiêm nghiệm từng trải của cá nhân ông. Giàu chất trí tuệ, thơ ông là những khát vọng muốn khám phá những quy luật của thiên nhiên, xã hội và của cả con người, nhằm tự vượt thoát ra khỏi những bế tắc của một thời và có ảnh hưởng sâu sắc tới tận ngày hôm nay, cả về tư tưởng và nghệ thuật của thơ, cả về tầm vóc văn hóa và nhân cách của một nhà thơ…. Trong thơ Việt Nam, có lẽ ông là người sáng lập ra loại thơ diễn giải minh họa và tuyên truyền, mà sau này ta thấy càng ngày càng phổ biến trong nền thơ hiện đại, chảy thành một dòng lớn trong thơ Việt Nam thế kỷ thứ XX, với nhiều tác phẩm xuất sắc của những tên tuổi lớn… Đặc biệt, lẽ đời, nhân tình thế thái, được ông trình bày vô cùng đa dạng, phong phú, có đủ các mùi vị, sắc thái. Đây là một đóng góp đặc sắc và có thể nói là độc đáo của ông trong thơ Việt Nam, tạo thành một từ trường, khiến ông trở thành một trong những ngọn núi lớn của thi ca dân tộc. Ở đây, màu sắc triết học đã tan vào cảnh vật và tâm trạng, làm cho nó có sức lan tỏa xa rộng, bền vững lâu dài. Nhiều câu thơ của ông ở loại này đã trở thành danh ngôn, thành ngạn ngữ, có cuộc sống riêng, độc lập với chính người đã sinh ra nó. (…) Một nội dung quan trọng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chữ “nhàn”. Chữ “nhàn” cũng đã xuất hiện trong thơ Chu Văn An, Nguyễn Trãi và một số nhà thơ khác. Đây là một xu hướng sáng tác văn chương của các sĩ phu ở nhiều thời kỳ, thể hiện sự bất hợp tác với chính quyền phong kiến và sự phủ nhận hiện thực thối nát của xã hội đương thời. Vì thế, giá trị khách quan của nó là tích cực. Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chữ “nhàn” trở thành một ám ảnh nghệ thuật, bởi nó không chỉ bộc lộ những tâm trạng riêng của ông, gắn liền với thời cuộc, mà còn thể hiện một quan niệm triết học của ông, một cách ứng xử của ông trước cuộc đời. Nội dung chữ “nhàn” trong thơ ông phức tạp hơn các nhà thơ khác, và nét chủ yếu không phải là tiêu cực mà là phép hành tàng của nhà nho trong lẽ xuất xử trước thời cuộc mà thôi.”[55][56][57][58][59]

Trong bài viết “ Bước đầu tâm lý về văn học thời Mạc ”, GS. Nguyễn Huệ Chi có những nghiên cứu và phân tích : “ Nhìn trong xu thế chung, văn học Nước Ta có một nhu yếu nội tại để tạo nên bước nhảy vọt thật sự kể từ thế kỷ XVI trở đi, dấu mốc nhảy vọt ấy rơi đúng vào văn học triều đại Mạc. Đây là cái ngẫu nhiên mà cũng là cái tất yếu của lịch sử dân tộc. Thời đại Lê sơ là đỉnh điểm của duy nhất Nho giáo và thể chế quân chủ tập trung chuyên sâu, phải chọn một vị vua làm hình tượng để cho dân tôn thờ, thần thánh hóa, đặc thù chung của văn học vì thế là hướng thượng. Phải quay nhìn lên ông vua và lấy ông vua làm hình mẫu, đem cảm hứng “ vua sáng tôi hiền ” liên kết thành động lực sáng tác. Đến triều đại Mạc, sau bao nhiêu chặng “ vua quỷ ”, “ vua lợn ” của triều Lê sơ làm người ta chán nản, tự nhiên hình tượng cao quý là những ông vua bị lu mờ, bị hạ thấp từ trong tiềm thức. Và cảm hứng “ thần thánh hóa ” đấng minh quân mất dần chỗ đứng. Người ta không còn hào hứng ngẩng lên, “ hướng thượng ” trong sáng tác của mình. Tình trạng này gây ra một phản ứng trái ngược trong vô thức : người sáng tác khởi đầu từ chỗ nhìn lên nay quay nhìn trở xuống. Và khi nhìn xuống hạ dân thì một quốc tế khác chợt hiện rõ trong tầm mắt. Họ bỗng nhìn thấy con người với bao nhiêu sự phức tạp, thánh thiện có mà tầm thường cũng có, ở chính đối tượng người dùng thân mật nhất với mình ấy. Con người được trình diện với những dục vọng, toan tính, những nét thấp hèn và cao quý, những tình cảm riêng tư, cá thể. Đó chính là một phát hiện lớn của văn học thời Mạc, mở màn cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực. Văn học đổi khác công dụng mà không tự biết : nó miêu tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường .Trước đây, trải qua tiêu chuẩn “ cái cao quý ”, nhà văn nhìn xã hội dầu không muốn cũng như được đánh bóng lên, được ước lệ hóa, công thức hóa, mỹ hóa thành một xã hội vàng son tuy nhiên trừu tượng, đâu cũng như nhau. Nhưng giờ đây nhìn vào góc nhìn đời tư đời thường thì cũng xã hội ấy lại hiện ra dưới muôn hình vạn trạng … Đó là cả một xã hội phức tạp. Nó không thuần nhất là xã hội nông nghiệp nữa mà mở màn có kinh doanh, có thủ công bằng tay, có làm giàu, và có đủ thứ lục đục xoay quanh nó, có cuộc đấu tranh giữa quyền lực tối cao và không có quyền lực tối cao, giữa ham muốn và bất lực. Không loại trừ cuộc đấu tranh muôn thuở về đạo đức giữa cái thiện và cái ác. Một xã hội nhiều mẫu mã hơn nhiều so với bức tranh xã hội thời Lê sơ mà văn học để lại .Tính pháp luật vẻ đẹp tức là cái sắc màu sống thực của thời đại này phản chiếu trong văn học, bộc lộ tiêu biểu vượt trội ở tập truyện “ Truyền kỳ mạn lục ” của Nguyễn Dữ cũng chuyển cả sang thơ, làm cho thơ ca mang một phương pháp tư duy mới. Trước đây, thơ là thơ trữ tình. Thơ giờ đây cũng là thơ trữ tình nhưng là trữ tình – lý trí. Nó rời bỏ tư duy cảm tính bước sang địa hạt tư duy lý tính. Và hướng cái nhìn vào xã hội, ấy là tư duy thế sự. Thơ trở nên có tính phát hiện hiện thực rất sắc mà cây bút tiêu biểu vượt trội là Nguyễn Bỉnh Khiêm … Chúng ta thấy phong thái tư duy thẩm mỹ và nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khác Nguyễn Trãi. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn sâu vào những ngóc ngách của xã hội để nhận diện bức tranh phức tạp của xã hội. Bức tranh ấy diễn ra một cách tự nhiên bởi nó là bức tranh xã hội có thực … Do cái nhìn thế sự, cái nhìn mày mò tâm ý thâm thúy, do xã hội phức tạp, có công, có thương, kinh doanh tăng trưởng, nên văn học nhìn thấy tiếng va xiết của đồng xu tiền. Đây chính là tiến trình khởi đầu nói đến vai trò của đồng xu tiền. Cũng chính Nguyễn Bỉnh Khiêm xác nhận vai trò đồng xu tiền như một tiếng động lạ, vang lên cái âm thanh đáng sợ của nó : “ Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng xu tiền ” ( thơ Nôm ). Đồng tiền hiện ra với toàn bộ vẻ quỷ quyệt khinh người. Nó có đủ sức mạnh làm tha hóa xã hội. Nhưng cạnh bên đó nó cũng có mặt tích cực mà Nguyễn Bỉnh Khiêm có nói đến : “ Kẻ khó nhờ ơn, có kẻ giàu ” ( thơ Nôm ). ”Nhìn trong hàng loạt tiến trình tăng trưởng và hoàn thành xong thơ văn chữ viết của Nước Ta, Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đi đầu trong việc tìm hiểu và khám phá 1 số ít công dụng mới, hình thức tư duy mới của thơ văn trung đại Nước Ta, ghi lại một bước tiến quan trọng so với những thời kỳ trước ông, bằng cách bổ trợ vào dòng chảy thơ ca dân tộc bản địa những đặc tính còn khá mới ( hoặc chưa từng được chăm sóc đúng mức ở những thời kỳ trước ông ) như tính triết lý, tính thế sự và tính trào phúng được vận dụng linh động bên cạnh tính trữ tình vốn quen thuộc. Và như vậy, ông là người có công khơi mở những hướng đi mới, những hướng tư duy mới cho nhiều tên tuổi điển hình nổi bật của thơ văn dân tộc bản địa ở những thế kỷ sau .

Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sự chuyển biến về nhận thức và ứng xử chính trị của giới tri thức phong kiến Nước Ta

GS. Nguyễn Huệ Chi (Bước đầu suy nghĩ về văn học thời Mạc) đã khái quát: “Một trong những đặc điểm nổi bật của văn học thời Mạc là thời đại này đã bước đầu xây dựng nên hình tượng con người tự do. Ở thời đại Lê sơ vì lực hút của triều đình phong kiến, Nho giáo độc tôn mạnh, nên gần như hút về tâm là quỹ đạo chủ đạo. Đến một Nguyễn Trãi vĩ đại là thế mà khi bị ruồng rẫy về Côn Sơn bao giờ lòng cũng đau đáu nghĩ đến vương triều, hễ được vời ra thì ra lại ngay. Đến thế kỷ XVIII lại có một hiện tượng ngược lại là người ta bỏ chạy khỏi triều đình, bỏ chạy để về sống ẩn, chỉ có mình với mình. Đây là thời đại ly tâm. Vào thời đại Mạc thế kỷ XVI thì khác, người ta không bị hút về tâm nữa nhưng cũng không hẳn ly tâm, nhờ đó tạo nên chính sự tự chủ cho người thức giả. Mình muốn ra thì ra, muốn về thì về, biểu trưng rõ nhất là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm ra thi với Mạc rồi sau 7 năm, thấy cần phải xuất thế ông bèn chủ động rút lui, bấy giờ Mạc vẫn chưa suy thoái. Về một thời gian ông lại ra giúp. Chính phong thái ung dung chủ động kia đã tạo nên tiếng nói tự do, tự tại trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ văn của rất nhiều người như Nguyễn Hãng, Nguyễn Dữ… Dòng mạch tư duy tự do tự tại quy tụ nên hình tượng con người không bị lệ thuộc trăm phần trăm vào quyền lực nữa mà ít hay nhiều đã là con người giải thoát. Cần phải thừa nhận rằng trong cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có một phương diện gọi là tự tại. Nhàn ở đây không là ẩn, chưa phải xã hội thối nát đến mức mình không thể chấp nhận nổi mà trở về chăm nom vài luống cúc, hoặc lẩn trốn vào cửa thiền, hoặc tìm quên trong thú vui cần câu, chén rượu. Nhàn, bởi mình cảm thấy phải làm chủ cuộc sống của mình, cho nên tự mình trở về an nhàn nghỉ ngơi. Nhưng khi nhà Mạc kêu gọi đi đánh bọn phản loạn thì Nguyễn lại hăng hái ra giúp. Nhàn trong trường hợp này là nhàn tự tại. Nhàn tự tại chính là nét khác với nhàn ở nhiều thời đại khác là thứ nhàn chỉ muốn lánh đục, lánh triều đình, “dũng thoái”. Nhàn tự tại không cố chấp mà hồn nhiên hơn.”

Như nhà phê bình Đỗ Lai Thúy trong bài tiểu luận “ Nguyễn Bình Khiêm, lựa chọn như một lối ứng xử ” ( Tạp chí VHNT số 334, tháng 4-2012 ) đã đánh giá và nhận định, Nguyễn Bỉnh Khiêm, xét về mặt mô hình nhân cách hoặc mẫu người văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể xem là điểm trung gian trong sự biến chuyển từ mẫu nhà nho – con người quân tử như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông … sang mẫu nhà nho – con người tài tử như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát … Nhưng khác Nguyễn Trãi ở chỗ Ức Trai sống vào quá trình Nho giáo chưa chính thức trở thành quốc giáo, chưa lên ngôi chính thống, duy nhất. Và khác Lê Thánh Tông ở chỗ Nho giáo thời Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy vẫn là chính thống, vẫn là duy nhất, nhưng đang suy vi vì cuộc chiến tranh, quốc gia bị chia cắt, nhân dân cực khổ và làm mưa làm gió. Nhà nho quân tử Nguyễn Bỉnh Khiêm, vì vậy, có những nét mới, đặt ra những yếu tố mới. Với một nhà nho quân tử, yếu tố cốt yếu, mang tính lý tưởng vẫn là trung thành với chủ với nhà vua chính thống ( trung thần bất sự nhị quân ). Nhưng ở thời Nguyễn Bỉnh Khiêm, những khái niệm “ vua ” và “ nước ” ( cũng như giữa “ vương triều ” và “ vương quốc ”, “ quyền lợi và nghĩa vụ gia tộc ” và “ quyền lợi dân tộc ” ) không còn trùng khít nữa, quyền lợi và nghĩa vụ của vua xích míc với quyền lợi và nghĩa vụ của dân, nên việc trung thành với chủ với một ông vua ngu tối ( hôn quân ) sẽ trở thành ngu trung : yếu tố chọn chủ được đặt ra. Sự lựa chọn này trở thành một yếu tố tri thức mở màn từ Nguyễn Bỉnh Khiêm với Lê – Mạc, sẽ lê dài với bao người khác trước sự phân tranh Trịnh – Nguyễn, Tây Sơn – Nguyễn Ánh … Ứng xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau đã trở thành một trong những khuôn mẫu cho nhiều thế hệ nhà nho, tri thức … trong xã hội Nước Ta. Việc Nguyễn Bỉnh Khiêm ra ứng thí dưới triều “ ngụy ” Mạc, rồi làm quan lớn, rồi tòng chinh theo vua Mạc đánh dẹp “ loạn quân ”, trong đó có cả dòng dõi nhà Lê-Trịnh-Nguyễn, đã gây nhiều do dự, vướng mắc ở những đầu óc phò “ chính thống ”. Thế mà Nguyễn Bỉnh Khiêm làm tổng thể những điều ấy không hề có một mặc cảm “ ý thức hệ ” nào, với một trạng thái nhận thức gần như cao nhất trong mọi cách hành xử của bản thân ông .Trong bài viết “ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sự chuyển biến về ứng xử chính trị của tri thức Nước Ta ”, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đã có những nghiên cứu và phân tích về cách hành xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm trước thời thế, như thể hình mẫu khởi đầu cho một quy trình chuyển biến thực sự về nhận thức cũng như hành vi của giới tri thức – nho sĩ trong lịch sử vẻ vang phong kiến Nước Ta :

… Rõ ràng, với Nguyễn Bỉnh Khiêm, giới nho sĩ – tri thức Nước Ta đã đạt tới một trình độ nhận thức cũng như năng lực ứng xử chính trị cao hơn so với thời hạn trước đó. Sự phân biệt vương triều chính thống với văn hóa truyền thống truyền thống lịch sử nơi họ đã minh bạch hơn trước, điều này giúp họ vươn lên thành những tầng lớp biểu lộ và phản ảnh không những quyền lợi và nghĩa vụ và tương lai của quốc gia mà còn cả quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân. Cần nói thêm rằng với nhân cách và bản lĩnh chính trị của ông, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chỉ mới đứng trong chặng đầu của quy trình chuyển biến tổng lực hoàn toàn có thể coi như một trào lưu lịch sử dân tộc về tập quán ứng xử chính trị của trí thức Việt Nam thời phong kiến …. Xuất hiện ở một thời kỳ khủng hoảng cục bộ của thể chế quân chủ và suy thoái và khủng hoảng của những tầng lớp thống trị, sự chuyển biến về ứng xử chính trị của trí thức Việt Nam thời Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tất yếu lịch sử dân tộc. Trong số lượng giới hạn những điều kiện kèm theo đơn cử của thời đại mình, với chuyển biến ấy, họ đã giữ được vị trí và vai trò truyền thống lịch sử trong hoạt động và sinh hoạt chính trị của quốc gia, vị trí và vai trò đã được lịch sử dân tộc xác nhận qua thần thoại cổ xưa về việc “ làm thầy ” cho cả ba tập đoàn lớn Mạc, Lê-Trịnh và Nguyễn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dĩ nhiên, bên cạnh sự chuyển biến nói trên, một quy trình phân hóa tổng lực về tư duy và học thuyết chính trị cũng diễn ra trong nội bộ giới tri thức, nhưng nhìn chung thì sự phân hóa này lại tạo điều kiện kèm theo cho họ qua thực tiễn nhận thức và hoạt động giải trí của mình phản ảnh và biểu lộ được đúng mực hơn, thâm thúy hơn, tổng lực hơn những quy trình xã hội trong lịch sử vẻ vang của quốc gia cũng như những trào lưu tư tưởng trong đời sống của dân tộc bản địa. Đó có lẽ rằng còn là sự chuẩn bị sẵn sàng của lịch sử dân tộc cho người tri thức Nước Ta thích ứng được với những xử cảnh chính trị đặc biệt quan trọng kiểu “ Đã có vua lại có chúa ” của chính quyền sở tại Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài hay tự xưng là Thiên vương tuy nhiên “ vẫn theo chủ trương nhà Lê ” của những chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII. Hơn thế nữa, với một Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm của nhà Mạc “ ngụy triều ” rồi một Hoằng quốc công Đào Duy Từ của họ Nguyễn cát cứ, người tri thức Nước Ta đã chứng tỏ được rằng họ trọn vẹn có năng lực thừa kế truyền thống cuội nguồn cũng như thi thố kĩ năng mà không nhất thiết phải ghép mình vào với vương triều chính thống. Theo thời hạn, bước trưởng thành về ứng xử chính trị ấy sẽ từ từ được khẳng định chắc chắn, góp thêm phần tạo ra một truyền thống lịch sử dân chủ chính trị nơi những người tri thức Nước Ta ngày trước, truyền thống cuội nguồn đã đem lại cho lịch sử vẻ vang Nước Ta những Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích trong triều đại nông dân Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII và một Cao Bá Quát với ngọn cờ Vũ Thang “ Điếu dân phạt tội ” ở miền Bắc năm 1851 rồi những Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Huân, Hồ Huân Nghiệp dưới ngọn cờ cứu nước “ chẳng nghe Thiên tử chiếu ” ở Nam Kỳ sau Hòa ước 1862 .

Sự tự do tư tưởng trong việc lựa chọn con đường sự nghiệp và cách ứng xử linh động trước những biến chuyển thời thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm ( toàn tâm đi theo nhà Mạc đến cuối đời, một triều đại bị coi là “ ngụy triều ” tiếm ngôi theo quan điểm Nho giáo truyền thống cuội nguồn, mà không theo nhà Lê sơ “ chính thống ” hay nhà Lê trung hưng sau đó được nhiều nho sĩ đương thời ủng hộ ) hoàn toàn có thể không ít đã ảnh hưởng tác động đến sự lựa chọn bước đường sự nghiệp của những học trò ông như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh ( cả hai đều theo nhà Lê trung hưng thay vì nhà Mạc ) .

Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư cách một nhà dự báo, hoạch định kế hoạch

Nghiên cứu về cuộc sống và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhiều người xưa nay đã vô tình hay cố ý như nhau giữa 2 khái niệm gần nhau là “ dự báo ” và “ bói toán ” khi bàn về năng lượng “ tiên tri ” của ông. Phần lớn những gì được lưu truyền tới nay về năng lực bói toán của Nguyễn Bỉnh Khiêm hoàn toàn có thể chỉ là loại sản phẩm thêu dệt của trí tưởng tượng dân gian. Tuy nhiên, thiên năng dự báo của ông ( dựa trên kỹ năng và kiến thức tổng hợp sâu rộng về dịch lý, lịch sử vẻ vang, chính trị, địa lý, tử vi & phong thủy … ) là điều đã được nhiều người có uy tín ở những thời đại khác nhau khẳng định chắc chắn. Trong số này có Chu Xán ( sứ thần đời nhà Thanh ), Vũ Khâm Lân ( thời Lê Trung Hưng ), Phạm Đình Hổ ( thời Lê Trung Hưng ), Nguyễn Thiếp ( sống thời Lê Trung Hưng, thời nhà Tây Sơn, và thời nhà Nguyễn ), Phan Huy Chú ( thời nhà Nguyễn ), Nguyễn Tài Thư ( nhà nghiên cứu chuyên về dịch lý học ở Nước Ta hiện tại ), Nguyễn Khắc Mai ( hiện là Giám đốc Trung tâm điều tra và nghiên cứu Minh triết Nước Ta ), và Nguyễn Phúc Ưng Viên ( hậu duệ hoàng tộc nhà Nguyễn, hiện đang sống và hành nghề đông y tại Nước Ta ) .

Danh sĩ Nguyễn Thiếp (1723-1804) từ xứ Nghệ về trấn Hải Dương (xứ Đông) với mong muốn tìm lại những dấu tích gắn với cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã cảm tác bài thơ Quá Trình Tuyền mục tự (Qua chùa cũ của Trình Tuyền), trong đó có những câu ca ngợi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có khả năng “áo cơ thâm tạo hóa” (mưu cơ thâm kín can dự vào công việc của tạo hóa) và “phiến ngữ toàn tam tính” (chỉ một lời mà bảo toàn cho cả ba họ).

GS. Nguyễn Tài Thư ( 2007 ) khi điều tra và nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, có quan điểm phân biệt rõ ràng giữa hai phạm trù “ dự báo ” và “ bói toán ” ( tương quan đến hiện tượng kỳ lạ sấm ký ) : ” … Nhờ “ lý ” đó mà Nguyễn Bỉnh Khiêm dự kiến và đề xuất kiến nghị được nhiều sự kiện có đặc thù lịch sử vẻ vang đương thời, như trong lúc nước lửa, ông khuyên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá để khỏi bị anh rể là Trịnh Kiểm bức hại, khuyên chúa Trịnh phải phò vua Lê thì mới giữ được ngôi báu, khuyên nhà Mạc dời lên Cao Bằng để duy trì thêm vài triều đại nữa, v.v.. Các sự kiện trên đã trở thành hiện thực, đã được lịch sử dân tộc chứng tỏ là đúng đắn. Sử sách đã ghi chép nhiều. Mọi người hầu hết đều biết. Nhưng năng lực biết trước có cơ sở hiện thực đó của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng gây cho 1 số ít người vướng mắc, muốn gán sức thần cho ông. Thực ra ở đó chỉ là loại sản phẩm của một đầu óc suy lý, là hiệu quả của một sự nghiên cứu và phân tích biết dựa vào trong thực tiễn, biết nắm lấy thời thế và biết phát huy tư tưởng “ lý ” của ông. Một người học rộng biết nhiều, nắm vững lịch sử vẻ vang dân tộc bản địa, lại dùng “ lý ” để Để ý đến sự vật thì những kiến giải trên không có gì là quá kinh ngạc. Từ năng lực biết trước như trên của ông, có người còn tiến tới phú cho ông là nhà tiên tri kiểu Đạo giáo, nhà tiên thiên học có năng lực làm ra những lời sấm dự báo được tương lai xa xôi. Bao nhiêu cuốn “ Sấm ký Trạng Trình ” đang được lưu truyền là thuộc loại đó. Thực ra đây chỉ là những lời đồn đại, những sự gán ghép vô lối về ông. Đó chỉ là do tâm ý sùng bái danh nhân của 1 số ít người còn mang nặng tư duy thần bí, đã khoác tấm áo siêu nhiên cho ông, hoặc đó là tác dụng của một mưu đồ chính trị, bịa ra sự kiện, tận dụng tên tuổi của ông để thực thi thủ đoạn, thường là việc làm của người đời sau. Cách làm đó không những không tôn vinh được vai trò của ông mà còn làm hại uy tín của ông. Sở dĩ nói hiện tượng kỳ lạ “ sấm ký ” là bịa đặt, do tại thực tiễn khách quan thì đa dạng và phong phú và phức tạp, cái tất yếu đi liền với vô số cái ngẫu nhiên, khiến con người khó lần ra manh mối. ” [ 53 ]

Sách lược phân vùng tác động ảnh hưởng địa chính trị

Nguyễn Bỉnh Khiêm được sử sách và người đời thừa nhận rộng rãi với tư cách là một nhà dự báo, hoạch định chiến lược kỳ tài, với tầm nhìn địa chính trị đi trước thời đại nhiều thế kỷ. Những lời cố vấn nổi tiếng của ông dành cho các dòng họ Mạc, Trịnh, Nguyễn (nói theo lời của danh sĩ Nguyễn Thiếp là phiến ngữ toàn tam tính) đã có ảnh hưởng to lớn, mang tính bước ngoặt đối với cỗ xe tiến trình của lịch sử Việt Nam (trong đó bao gồm quan hệ Việt Nam – Trung Quốc) và từ đó tác động lớn tới quan hệ địa chính trị của cả khu vực Đông Nam Á từ thời kỳ trung đại (thế kỷ 16) trở về sau.

Cho đến nay vẫn tồn tại những luồng quan điểm khác biệt về tính xác thực của những lời cố vấn nổi tiếng không chỉ được ghi trong sử sách mà cũng được truyền tụng rộng rãi trong dân gian về tài tiên đoán, dự báo đi trước thời đại của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho các tập đoàn quyền lực phong kiến Mạc, Lê-Trịnh, Nguyễn đương thời. Không ít nhà nghiên cứu phủ nhận việc Nguyễn Bỉnh Khiêm (vốn là một trung thần của nhà Mạc) lại có thể sẵn lòng bày kế cho các họ Lê, họ Trịnh hay họ Nguyễn, vốn là những thế lực đối địch hoàn toàn với họ Mạc. Nhưng xét một cách khách quan và công bằng thì những lời khuyên đó của Nguyễn Bỉnh Khiêm không xung đột lợi ích với nhau. Đúng như danh sĩ Nguyễn Thiếp sống thời nhà Tây Sơn đã ca ngợi: “phiến ngữ toàn tam tính”, nghĩa là lời nói ngắn gọn mà bảo toàn lợi ích cho cả ba họ (Quá Trình Tuyền mục tự). Cũng có nhiều ý kiến cho rằng những lời “mách nước” đó của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là giai thoại hay truyền thuyết, cũng như quan điểm của nhiều người về nguồn gốc sấm truyền của Trạng Trình chỉ là sáng tác của dân gian hay người đời sau mà thôi. Nhưng có một thực tế là chúng đã được ghi lại trong không ít sử liệu cũng như được lưu truyền qua nhiều đời con cháu của một số dòng họ có liên quan.

Theo Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn: “Vua Lê Trung Tông (1549 – 1557) không có con nối ngôi, đại thần bàn định xem nên lập ai, nhưng chưa quyết được, mới sai người đến hỏi (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Ông không đáp và bảo người nhà rằng: Năm nay đã mất mùa, sao không mau tìm thóc giống cũ mà đem gieo trồng cho kịp thời vụ. Bề tôi nhà Lê suy ý lời nói ấy, bèn quyết kế rước lập vua Anh Tông”.[60] Rồi việc “Khi Trịnh Tùng lăng loàn, có dị chí, ngầm sai người hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về số phận nhà Lê còn dài ngắn như thế nào? Ông không đáp bỏ ra chùa chơi, giả bộ giận các nhà sư bất cẩn, trách mắng rằng: Ngạn ngữ có câu “thờ Phật ăn oản, không biết thờ Phật thì mong gì được ăn oản”. Trịnh Tùng nghe nói mới thôi không cướp ngôi nhà Lê nữa”. Hay như việc “Đức Thái tổ Hoàng đế triều ta (Nguyễn Hoàng) luôn bị họ Trịnh chèn ép bức bách, muốn dời đi nơi khác, đã sai người đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông trả lời: Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân (nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được). Sau bản triều xây dựng cơ nghiệp ở miền Nam, lời ông quả ứng nghiệm”.[61]

Quyển thứ nhất của Đại Nam thực lục tiền biên (cũng do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn) cũng ghi việc Nguyễn Bỉnh Khiêm “mách nước” cho Nguyễn Hoàng mở về phương Nam: “Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trung Tông, do quân công được tiến phong Đoan quận công. Bấy giờ Hữu tướng triều Lê là Trịnh Kiểm (bấy giờ xưng là Lượng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả tướng là Lãng quận công Uông (con trưởng Triệu Tổ) bị Kiểm hãm hại. Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo để họ Trịnh hết ngờ. Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi. Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý”.[62]

Ở đây có một giả thiết được đặt ra rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm không có vai trò lịch sử gì trong quyết định Nam tiến của Nguyễn Hoàng mà chỉ là dân gian thêu dệt nên như nhiều giai thoại về Bỉnh Khiêm. Vậy thì tại sao cả hai bộ sử (Đại Nam thực lụcĐại Nam nhất thống chí) được xem là chính thống của nhà Nguyễn, do các sử thần triều Nguyễn (Quốc sử quán triều Nguyễn) biên soạn lại xác nhận lời nói của Bỉnh Khiêm một cách quả quyết và có vẻ trang trọng đến vậy? Tại sao sử thần nhà Nguyễn không cố tình “lờ đi” vai trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong quyết định Nam tiến của Nguyễn Hoàng, hoặc giả như gắn vai trò của Bỉnh Khiêm cho một nhân vật lịch sử nào đó thân cận và trung thành với Nguyễn Hoàng chẳng hạn? Lại cũng có một luồng quan điểm cho rằng không phải Nguyễn Hoàng nhờ chị gái Ngọc Bảo xin anh rể Trịnh Kiểm cho mình vào trấn giữ đất Thuận Hóa sau khi đã tham vấn Nguyễn Bỉnh Khiêm mà chính Trịnh Kiểm là người đầu tiên đề xuất ý tưởng cho em vợ vào Nam trấn thủ. Những người ủng hộ luồng quan điểm này cho rằng vì người thời Nguyễn vốn có mối thù ghét kéo dài với những gì thuộc về công tích của họ Trịnh nên sử thần thời Nguyễn mới đem ý tưởng của Trịnh Kiểm gắn cho Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên, những người ủng hộ luồng quan điểm này (ủng hộ vai trò lịch sử của Trịnh Kiểm thay vì Nguyễn Bỉnh Khiêm) lại vấp phải một mâu thuẫn khác là họ không giải thích được tại sao sử thần triều Nguyễn lại quả quyết ghi nhận vai trò của một người họ biết rõ vừa là một trung thần vừa là một trọng thần của nhà Mạc như Bỉnh Khiêm.[63][64][65] Cần nhớ, xét về mặt lịch sử người nhà Nguyễn phải thù ghét những gì gắn với họ Mạc nhiều hơn những gì liên quan đến họ Trịnh vì họ Mạc vốn luôn bị xem là kẻ thù truyền thống của cả ba dòng họ thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn vốn cùng phát tích từ xứ Thanh. Vậy dù có đưa ra lý lẽ nào để bác bỏ vai trò lịch sử của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong quyết định Nam tiến của Nguyễn Hoàng thì người ta cũng phải thừa nhận một điều là sử thần thời nhà Nguyễn (cụ thể ở đây là những sử quan của Quốc sử quán triều Nguyễn) đã có một cái nhìn trân trọng đáng kể đối với tài năng của Bỉnh Khiêm dù họ vẫn mang nặng tư tưởng bài xích “Nhuận Mạc”.

Trong bài viết phóng sự “ Bí ẩn trầm hương – Kỳ 1 : Vài dòng lịch sử vẻ vang ” đăng trên báo Thanh Niên điện tử, [ 23 ] tác giả Hoàng Hải Vân trong cuộc đối thoại với ông Nguyễn Phúc Ưng Viên ( là cháu nội hoàng tử thứ 12 con vua Minh Mạng, khi đó đang sống và hành nghề bào chế thuốc nam tại Thành phố Hồ Chí Minh ), đã thuật lại nguyên văn như sau : “ Ông Ưng Viên nói một trong những thứ mà Chúa Tiên mang vào Nam là những đàn dê, việc này do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm ý kiến đề nghị. Dê là con vật độc lạ, không những có giá trị y thực Giao hàng sức khỏe thể chất cho dân chúng, mà còn rất tiện ích cho phục vụ hầu cần quân sự chiến lược. Dê dễ nuôi, hoàn toàn có thể dẫn những đàn dê theo quân, khi có chiến sự chúng ở đâu nằm im ở đó không chạy nhặng xị như trâu bò gà vịt, lại dễ phân phối trong quân, một con dê hoàn toàn có thể ship hàng gọn bữa ăn cho một “ tiểu đội ”. Cha ông của ông Ưng Viên dặn dò con cháu ngoài việc nhớ ơn và thờ phụng tổ tiên mình, còn phải nhớ ơn và thờ phụng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bởi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đề xuất kiến nghị với Chúa Nguyễn từ kế hoạch giải pháp, từ chuyện quân cơ, phục vụ hầu cần cho đến những chuyện đơn cử tương quan đến bảo vệ sức khỏe thể chất cho quân dân như món ăn, bài thuốc để làm hành trang Nam tiến. Trong đó có chuyện “ dụng trầm ”. ”Như Li Tana, một nhà nghiên cứu về lịch sử vẻ vang Việt Nam trung cận đại, đã nhận định và đánh giá : “ Một làn sóng di dân vĩ đại của người Nước Ta đã diễn ra vào cuối thế kỷ XVI. Về phương diện lịch sử dân tộc, nó hoàn toàn có thể sánh với cuộc di dân của người Nước Trung Hoa, tuy với tỷ suất nhỏ hơn, từ phía Bắc tới đồng bằng sông Dương Tử dưới thời Đông Tấn ( thế kỷ thứ IV sau CN ). Trước thời kỳ này, số người Nước Ta di dân xuống phía Nam không nhiều, có vẻ như lác đác. Nhưng giờ đây động cơ thôi thúc họ di dân trở nên mạnh hơn và mục tiêu của họ cũng rõ ràng hơn. Nếu Thuận Hóa trước đây xem ra còn là một vùng đất đầy nguy hiểm, bấp bênh về 1 số ít nghành nghề dịch vụ thì việc Nguyễn Hoàng thiết lập chính quyền sở tại ở đây được coi như là việc tái chứng minh và khẳng định quyền của người Nước Ta được định cư ở vùng đất này và vì vậy là một khuyến khích lớn so với việc di dân … ” [ 66 ]Trong bài viết “ Một Nước Ta khác ? Vương quốc của họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18 ”, [ 67 ] Li Tana nghiên cứu và phân tích :
Giai đoạn quản lý của họ Nguyễn ở Đàng Trong kể từ thời Nguyễn Hoàng ( 1558 ) cho tới thời Minh Mạng ( 1820 – 1841 ) cũng đưa tới một hệ quả lịch sử dân tộc mang tính bước ngoặt là nó đã đổi khác cơ bản nhận thức của người Việt về tầm quan trọng của chủ quyền lãnh thổ biển hòn đảo so với bảo mật an ninh quốc phòng cũng như quyền lợi kinh tế tài chính vĩnh viễn của dân tộc bản địa. Nó cho thấy một tầm nhìn kế hoạch rõ ràng của những nhà quản lý họ Nguyễn ( gồm có những đời chúa Nguyễn và vua nhà Nguyễn ) trải qua những hành động đơn cử bộc lộ ý thức xác lập và thực thi chủ quyền lãnh thổ lịch sử dân tộc của người Việt so với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước khi có sự tranh chấp chủ quyền lãnh thổ từ những thế lực khác .

Tầm nhìn kế hoạch về biển Đông

Bài thơ “Cự ngao đới sơn”[69] nằm trong tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập được Nguyễn Bỉnh Khiêm viết cách đây gần 500 năm, được GS. Đinh Gia Khánh dịch thơ đã lâu, song gần đây, bài thơ được nhiều người quan tâm nghiên cứu.[28][70][71] Đặc biệt từ khi chính quyền Trung Quốc bộc lộ rõ tham vọng xâm lấn, thuộc địa hoá biển Đông, chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, vốn là một thực tế lịch sử được sử liệu các triều đại Trung Quốc, Việt Nam và nguồn tư liệu phong phú về hàng hải của nhiều quốc gia phương Tây thừa nhận.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai thuộc Trung tâm nghiên cứu Minh triết Việt Nam trong bài viết “Bài thơ Cự Ngao Đới Sơn – một dự báo chiến lược thiên tài của Nguyễn Bỉnh Khiêm” (2013)[72] đã có những phân tích về tầm nhìn đi trước hằng thế kỷ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của một quốc gia (cụ thể ở đây là phải chắc chắn xác lập được chủ quyền của con dân nước Việt đối với biển Đông hay còn gọi là biển Nam Trung Hoa) ở vào giai đoạn trung đại khi mà không mấy ai thực sự quan tâm đến nó, ngay cả với những nhà hoạch định chiến lược vốn nổi tiếng nhìn xa trông rộng của các triều đại phong kiến Trung Hoa trước đây. Tác giả bài viết có những phân tích: “Bài thơ có tuổi đã khoảng 500 năm mà bây giờ càng đọc càng thấy rất kim nhật kim thì, rất thời sự. Ta những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay. Bài thơ nguyên là để nói cái chí của cụ: Chí những phù nguy xin gắng sức (Ngã kim dục triển phù nguy lực)… Câu thơ cuối bài của cụ: Ta nay cũng muốn đem sức phò nguy chính là nói về chúng ta trong những nhiệm vụ làm chủ biển Đông hôm nay vậy.”

Một bài nghiên cứu và phân tích đáng quan tâm khác là bài viết “ Tầm nhìn kế hoạch về biển hòn đảo của Trạng Trình từ 500 năm trước ” ( 2013 ) của nhà thơ Nguyễn Đình Minh [ 73 ] với những nhận định và đánh giá như sau : “ Tác giả đã chỉ ra một trong những điều tất yếu của sự vững chắc muôn đời của giang sơn Đại Việt chính là nắm giữ chủ quyền lãnh thổ biển Đông. Trước đây khi đề cập đến chủ quyền lãnh thổ, tất cả chúng ta thường nói nhiều về sông núi, đất đai ; tất cả chúng ta có nói về biển nhưng không nhiều, biển không là trọng điểm nhấn mạnh vấn đề. Nhưng từ 500 năm về trước Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dự báo tầm quan trọng của biển hòn đảo dẫn đến sự tồn vong thịnh trị của cả vương quốc ; điều ấy cho thấy tầm kế hoạch về bảo vệ của ông rất to lớn và tổng lực. ” Như tác giả bài viết đã Tóm lại : “ Một tầm nhìn kế hoạch về biển Đông ” .

Khi bài “Cự ngao đới sơn” được viết ở thế kỷ 16, vào thời đó, chủ quyền của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị tranh chấp quốc tế, các thế lực khác nhau chủ yếu đặt tham vọng xâm chiếm phần lãnh thổ đất liền mà thôi. Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ở rất xa đất liền là nơi lánh nạn, trú bão của các đoàn thương thuyền, ngư thuyền mạo hiểm dám ra khơi xa, trong điều kiện phương tiện thuyền bè đương thời, vai trò của kinh tế biển – đảo khi đó chưa được khai thác như bây giờ.

Đặc biệt hai câu kết của bài thơ như một lời tự day dứt, trăn trở, một ý chí quyết tâm của chính tác giả : “ Ta nay muốn thi thố sức phù nguy / Lấy lại quan hà, thành xưa của nhà vua ” ( “ Ngã kim dục triển phù nguy lực / Vãn khước quan hà cựu đế thành ” ). Sức lay động của bài thơ chính là ở đây, là ở những chữ như “ ngã ” ( tôi, ta ), “ kim ” ( nay, hiện thời ), “ dục ” ( mong ước, khát khao ), “ phù ” ( giúp sức ), “ nguy ” ( nguy khốn ), “ vãn ” ( muộn, chậm, lâu ), “ khước ” ( lấy lại, giành lại ). Như nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu và phân tích, bài thơ nếu không phải “ sấm ký ” thì cũng là lời nhắn nhủ, lời hiệu triệu xuất phát từ tận đáy lòng của tác giả, với tính dự báo kế hoạch đi trước thời đại hằng thế kỷ, dụng ý dành cho hậu thế nhiều đời sau chứ không phải cho riêng đương thời thế kỷ 16 .

Bài thơ là một ví dụ điển hình cho tôn chỉ nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm: thơ ngôn chí, như ông đã bộc bạch trong lời đề tựa của Bạch Vân am thi tập. Xuyên suốt cả bài thơ là một tư tưởng chủ đạo: lo trước cái lo của thiên hạ (khái niệm thiên hạ đặt trong ngữ cảnh cụ thể của bài thơ trên chính là để chỉ quốc gia – dân tộc). Như có nhà nghiên cứu đã nhận định về giá trị tư tưởng của bài thơ: một con người dù ở bất cứ quốc gia nào, dân tộc nào, thời đại nào, mà có thể bận tâm lo trước mối lo lớn (an ninh quốc phòng, an nguy chủ quyền) của giang sơn xã tắc hằng trăm năm sau (500 năm ở đây nếu xét tuổi đời của bài thơ) thì đáng để hậu thế phải ngàn lần suy ngẫm và kính phục.

Kết tinh Tam giáo Nho-Lão-Phật trong nhân cách và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nếu Nguyễn Trãi có nhiều lần đọc ” Pháp Bảo đàn kinh ” ( tác giả từng viết ” Môn Thiền nhất phái Tào Khê thủy “, ” Vô thụ phi đài ngữ nhược tâm ” – ” Du Nam Hoa tự ” ) ; Nguyễn Du sau này đã viết ” Ngã độc Kim Cương thiên biến kinh ” ( Tụng đọc ” Kinh Kim Cương ” hơn nghìn vạn lần ) ( ” Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài ” ) thì Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài ” Độc Phật kinh hữu cảm “. Ông đã chịu tác động ảnh hưởng Phật giáo khá nhiều trong cuộc sống và sáng tác .Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có cái nhìn thời thế rất thâm thúy, độc lạ. Ông học được những kỹ năng và kiến thức Nho học từ Lương Đắc Bằng ( thuộc phái Tượng số học của Tống Nho ). Học trò suy tôn ông là Tuyết Giang Phu Tử – một bậc chân nho .Tuy nhiên ta vẫn gặp thái độ như không mấy sáng sủa trong cuộc sống. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết những câu tựa như Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi : ” Nho quan tự tín đa thân ngộ ” ( Tự biết ” cái mũ nhà nho ” đã làm cho tấm thân mắc nhiều lầm lỡ – ” Ngụ hứng, 3 “, ” Bạch Vân am thi tập ” ). Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan với nhà Mạc nhưng ông cũng thấy được sự đổ nát từ bên trong. Ông đã dâng sớ chống tham nhũng. Về trí sĩ ông lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ như thể một Fan Hâm mộ nhà Phật. ( Cha ông là Văn Định cũng đã từng lấy đạo hiệu là Cù Xuyên ) .Về quê ông tích cực xây chùa, mở trường học. Thường ngày ông cùng với vài nhà sư, một số ít bè bạn đi dạo những danh thắng trong đó có núi Yên Tử – TT thiền học Nước Ta. Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm chơi chùa Phổ Minh ( ngôi chùa được thiết kế xây dựng từ thời nhà Trần ), ông đã sánh Pháp giới của nhà Phật với ý niệm Trời của Nho gia : ” Pháp giới ưng đồng thiên quảng đại ” ( Pháp giới sánh ngang tầm to lớn của trời ) ” Du Phổ Minh tự ” ). Điều này chứng tỏ ông đã nhận thức được tư tưởng ” Nhất thế chư pháp vô phi Phật pháp ” ở ” Kinh Kim Cang ” [ 7, 56 ]. Đến tiết Trung nguyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm kỳ vọng ở lòng yêu thương to lớn : ” Từ bi ta muốn nhờ công sức của con người, Cứu được bao người chịu khổ oan ” ( ” Trung nguyên tiết xá tội ” – Đinh Gia Khánh dịch ). Nhà thơ rất cảm hứng khi đọc kinh Phật ( ” Độc Phật kinh hữu cảm ” ). Ông tâm đắc triết lý sắc không : ” Xuân hoa phong nguyệt không mà sắc ” ( ” Tân quán ngụ hứng, 12 ” ). Đây là tư tưởng ” Sắc tức thị không, không tức thị sắc ” điển hình nổi bật của ” Kinh Bát nhã ” Tư tưởng Thiền có lẽ rằng đã gây chấn động trong nhận thức của tác giả : ” Vị Phật na tri vô hữu tướng, Đáo thiền phương ngộ bổn lai ky ( cơ ) ” ( Chưa Phật nào hay vô hữu tướng, Đạt thiền mới biết bổn lai cơ – ” Tân quán ngụ hứng, 18 ” ). Tư tưởng này được tìm thấy ở ” Kinh Kim Cang “. Khi Phật nói với Tu – bồ – đề : ” Phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng. Nếu những ông thấy những pháp ( tướng ) đều hư vọng, không thật ( phi tướng ) tức là thấy được Như Lai ( thật tướng những pháp ) ” [ 7, 41 ]. Tư tưởng này cũng được tiếp nối ở ” Pháp Bảo Đàn kinh “. Tác giả nói ” Bổn lai cơ ” trong trường hợp này không ngoài mệnh đề ” Bổn lai vô nhất vật ” ( ” Pháp Bảo Đàn kinh ” ). Khái niệm ” cơ ” ở cuối câu hoàn toàn có thể có nguồn gốc xuất pháp từ Tượng Số học – vốn là sở trường của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chính tư tưởng Thiền và kinh Phật đã làm đa dạng chủng loại và nâng cao bản lĩnh Nho học cùng truyền thống trí tuệ trong thơ và đời Nguyễn Bỉnh Khiêm .

Nguồn gốc tên gọi Nước Ta

Cho đến trước thế kỷ 19 (trước khi nhà Nguyễn được thành lập), trong số các tác gia thời trung đại của Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là người có mối liên hệ mật thiết nhất với hai chữ Việt Nam thông qua các trước tác của ông hoặc có liên quan trực tiếp với ông. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải (Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam khẳng định điều này. Dù chưa có những bằng chứng chắc chắn để khẳng định Nguyễn Bỉnh Khiêm có phải là người đầu tiên sử dụng danh xưng Việt Nam với tư cách là quốc hiệu của dân tộc hay không nhưng nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cũng đồng quan điểm với ông Nguyễn Phúc Giác Hải khi cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể là người đầu tiên sử dụng danh xưng Việt Nam một cách có ý thức nhất để gọi tên của đất nước.

Trong các tác phẩm liên quan đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, có ít nhất bốn lần danh xưng Việt Nam đã được sử dụng một cách có chủ ý. Điều này cũng góp phần bác bỏ quan điểm cho rằng hai chữ Việt Nam chỉ được Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng một cách ngẫu nhiên hay tùy hứng mà thôi. Trong kho lưu trữ của Viện Nghiên cứu Hán-Nôm hiện còn lưu giữ nhiều tài liệu cổ (chép tay) về Nguyễn Bỉnh Khiêm có sử dụng danh xưng Việt Nam như một quốc hiệu tiền định. Ngay trong phần đầu của tập Sấm ký có tựa đề Trình tiên sinh quốc ngữ, tên gọi Việt Nam đã được nhắc đến: “Việt Nam khởi tổ xây nền”. Danh xưng Việt Nam còn được sử dụng một lần nữa trong bài thơ chữ Hán của ông có tựa đề Việt Nam sơn hà hải động thưởng vịnh (Vịnh về non sông đất nước Việt Nam). Ngoài ra còn có hai bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi hai người bạn thân đồng thời là hai Trạng nguyên của triều Mạc, cho thấy tên gọi Việt Nam được dùng như một sự chủ ý. Bài thứ nhất gửi Trạng nguyên, Thư Quốc công Nguyễn Thiến, hai câu cuối Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: Tiền trình vĩ đại quân tu ký / Thùy thị phương danh trọng Việt Nam (Tiền đề rộng lớn ông nên ghi nhớ, Ai sẽ là kẻ có tiếng thơm được coi trọng ở Việt Nam?). Bài thứ hai gửi Trạng nguyên, Tô Khê hầu Giáp Hải, hai câu cuối Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng viết: Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại / Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam (Cùng ngửa trông ngôi sao sáng trên bầu trời, Trước sau soi ánh sáng rực rỡ vào nước Việt Nam). Các bài thơ trên còn được chép trong tập thơ chữ Hán của ông là Bạch Vân am thi tập.

Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư cách một nhà hoạt động giải trí từ thiện

Trong các tác phẩm thơ văn của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm thường nêu cao chữ nhàn, hiểu theo nghĩa thông thường là nhàn hạ, nhàn tản. Nhưng như nhiều nhà nghiên cứu đã bàn luận, cách hiểu theo nghĩa trên sẽ khiến người ta dễ hiểu nhầm và đi đến chỗ tầm thường hoá tư tưởng và nhân cách của ông. Thực tế dù thường được sử sách và người đời mô tả như một nhà ẩn sĩ cốt cách thanh tao thoát tục nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ là một người “lánh đời”, bàng quan trước thế sự xung quanh mình (hay thậm chí là “chán đời”, “ghét đời” như không ít nhà nghiên cứu đã gán cho Nguyễn Bỉnh Khiêm). Có lẽ chữ dùng thích hợp hơn cả cho Nguyễn Bỉnh Khiêm phải là “thương đời”, “đau đời” như nhiều nhà nghiên cứu gần đây đã bàn luận.

Trần Khuê (Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc, 1991) từng nhận xét: “Trong vài trăm năm qua, người ta truyền tụng và giảng dạy trong nhà trường phong kiến, thực dân quá nhiều thơ nhàn dật của ông. Một số nhà nghiên cứu lại đi thống kê số lượng từ nhàn trong thơ ông rồi yên trí rằng cái gam-chủ trong thơ ông và trong đời ông là thứ gam majeur-nhàn-dật. Họ quên rằng chính ông đã nói rõ: “Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chỉ thích nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui… ”. Rõ ràng không thể lấy cái âm hưởng thơ ông lúc chờ thời hay cái âm hưởng hoàng hôn cuối đời để định giá toàn bộ thơ ông và đời ông. Ba mươi năm phò nhà Mạc và hàng trăm bài thơ chữ Hán chứng minh rằng ông sống hào hùng và tung hoành khí phách. Hiển nhiên gam chủ của thơ ông và đời ông là thứ gam majeur-hành động.”

Tác giả Viên Linh trong bài viết “ Trạng Trình, hồn chữ nghìn thu ” ( 2013 ) nhận định và đánh giá : “ Nhân sinh quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm sờ sờ ra đó, mà cứ bàn về cái nhàn, cái yếm thế, cái chán đời của ông. Tôi nghĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm ưu tư về nhân sinh xã hội đương thời, lo cho cái ăn cái uống của người nghèo bạc phước, phận hèn thân mọn, kiếm không đủ ăn, ông không lòng dạ nào để vịnh hoa và tán tụng những nương tử, những thứ xa xỉ với người dân. Ông không làm thơ vì mình, ông làm thơ cho người. Ông không có thì giờ để buồn chán vì mình, vì không nghĩ về mình thì không buồn về mình, ông buồn cho những kiếp người nhỏ nhoi đói rét xung quanh. ” [ 74 ] Thực tế, qua những bài văn bia do ông soạn còn lưu lại người đời không chỉ thấy tính dữ thế chủ động và thành tâm của Trình Quốc Công trong những hoạt động giải trí xã hội như hoạt động xây cầu, xây quán, xây đình chùa mà còn thấy được uy tín và tác động ảnh hưởng sâu rộng của ông trong những những tầng lớp nhân dân. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà chính trị có tư tưởng thân dân rất rõ ràng. Khi phê phán những tầng lớp quản lý trong xã hội phong kiến, ông luôn đứng trên lập trường của những con người áo vải tầm trung, mặc dầu ông không xuất thân từ những tầng lớp của họ. Trong lịch sử dân tộc Nước Ta dưới thời phong kiến, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những danh nhân đi tiên phong trong việc phát động và tham gia tích cực những hoạt động giải trí xã hội mang tính từ thiện vì quyền lợi chung của hội đồng, đặc biệt quan trọng là so với những tầng lớp thường dân .

Trong bài văn bia Diên Thọ kiều bi ký (1568), Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những câu như tuyên ngôn cho tư tưởng nhân nghĩa của ông: “…Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành.”[8]

Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy làm quan cho nhà Mạc, và khi cáo quan vẫn giúp nhà Mạc; nhưng với tinh thần nhập thế của một nhà Nho tinh đời, ông không ngần ngại bày kế sách cho cả vua Lê, chúa Trịnh và cả chúa Nguyễn. Nguyễn Bỉnh Khiêm bình thản nhìn sự đời thay đổi, chữ “trung” của ông được cắt nghĩa trong bài Trung Tân quán bi ký như sau: “Quán dựng xong, đề biển là Quán Trung Tân. Có người hỏi: lấy tên quán như vậy ý nghĩa thế nào? Ta trả lời rằng: trung nghĩa là trung chính vậy. Giữ được toàn vẹn tính thiện của mình là trung vậy, không giữ toàn vẹn được tính thiện của mình thì không phải là trung vậy. Tân tức là bến vậy. Biết chỗ dừng đó là đúng bến, không biết chỗ dừng thì là lạc bến vậy. Tên gọi của quán này đại thể là như thế. Như trung với vua, hiếu với cha mẹ, thân ái với anh em, hòa hợp vợ chồng, tín với bạn bè, đó là trung vậy. Đối diện với của cải mà không tham, thấy lợi mà không tranh giành, vui với điều thiện mà bao dung được người, lấy tình thực mà ứng đãi với mọi vật, đó cũng là trung vậy”. Điều này cho thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn ý thức về “tam cương ngũ thường” của Nho giáo, nhưng ông không phải loại nho sĩ cố chấp, ngu trung. Lòng trung của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện là giữ vẹn điều thiện và lấy tình thực mà ứng đãi.

Đánh giá về Nguyễn Bỉnh Khiêm qua những thời đại

Bốn thế kỷ đã qua từ ngày Nguyễn Bỉnh Khiêm qua đời, nhưng suốt bốn thế kỷ chưa lúc nào ngớt âm vang về con người kỳ diệu ấy. Mọi tầng lớp nhân dân đều đã liên tục bình luận về ông, trong đó có khen có chê, có sai có đúng, có những điều đem gán cho ông mà ông không có, có những điều ông vốn có đã chẳng được nêu lên.
— Nhà nghiên cứu văn hóa Vũ Khiêu (1986)[54]

Là một trong những nhân vật có tác động ảnh hưởng nhất của lịch sử vẻ vang chính trị và văn hóa truyền thống Nước Ta trong thế kỷ 16, cuộc sống Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trải qua gần trọn một thế kỷ nhiều biến chuyển với quy mô tác động ảnh hưởng chưa từng có trước đó trong lịch sử vẻ vang dân tộc bản địa, mà ông vừa là nhân chứng vừa là tác nhân quan trọng tạo nên chúng .Trạng nguyên Giáp Hải, một công thần bậc nhất triều Mạc, đã viết thơ ca ngợi tài lý học của Nguyễn Bỉnh Khiêm và tên tuổi của ông trong giới Nho gia đương thời cũng như công lao của ông so với triều Mạc, trong đó có những câu sau : [ 32 ] [ 33 ]

Bản phiên âm Hán-Việt :

Chu Liêm Khê hậu hữu Y Xuyên,
Lý học vu kim hữu chính truyền.
Danh quán Nho gia lôi phấn địa,
Lực phù nhật cốc trụ kình thiên.
Tứ triều huân nghiệp nhân trung kiệt,
Cửu lão quang nghi thế thượng tiên.
Ký thủ huyền xa vinh lý hậu,
Thanh phong thác hứng nhập ngâm biên.
Bản dịch nghĩa :

Sau Liêm Khê lại có Y Xuyên,
Lý học ngày nay, ông đích thực là bậc chính truyền.
Tiếng tăm ông lừng lẫy làng nho như sấm rền mặt đất,
Năng lực của ông phò vua như cột chống đỡ trời.
Huân nghiệp trải bốn triều, ông là tài năng kiệt xuất giữa cõi người,
Dung nghi rực rỡ của tuổi chín mươi, ông khác gì vị tiên nơi trần thế.
Xe đã treo về vinh xóm cũ,
Thảnh thơi gió mát hứng thơ nhàn.
Bản dịch thơ :

Sau Liêm Khê[75] lại có Y Xuyên,[76]
Lý học ngày nay bậc chính truyền.
Long bảng đứng đầu tên sấm dậy,
Chống trời cột vững sức cường kiên.
Bốn triều nghiệp lớn tay anh kiệt,
Chín lão dung nghi, dáng khách tiên.
Xe đã treo về, vinh xóm cũ,
Thảnh thơi gió mát, hứng thơ nhàn.

Bài văn tế “Môn sinh tế Tuyết Giang phu tử văn” đọc trước linh cữu Nguyễn Bỉnh Khiêm mùa đông năm 1585 do Tiến sĩ Đinh Thì Trung (Đinh Thời Trung) thay mặt các đồng môn soạn ra để tế viếng người thầy của mình. Trong bài văn tế, học trò Đinh Thời Trung đã coi Tuyết Giang phu tử là bậc “muôn chương đọc khắp, học tài chẳng kém Âu, Tô” (Âu Dương Tu và Tô Đông Pha đời Tống), “văn lực không nhường Lý, Đỗ” (Lý Bạch và Đỗ Phủ đời Đường), “một kinh Thái ất thuộc lòng, đốt lửa soi gan Dương Tử” (hiểu rõ lẽ huyền vi của bộ Thái ất như Dương Hùng đời Hán), “suy trước biết sau, học lối Nghiêu Phu môn hộ” (suy trước biết sau chẳng khác nào Thiệu Ung đời Tống) và “một mình Lý học tinh thông, hai nước anh hùng không đối thủ”.

Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân (1702/1703–?), trong bài Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký soạn năm 1743 có những dòng ca ngợi:…Bởi tiên sinh chẳng những chỉ tinh thâm một môn Lý học, biết rõ dĩ vãng cũng như tương lai, mà sự thực thì trăm đời sau cũng chưa dễ ai hơn được vậy. Ôi! Ở trong thiên hạ, các bậc quân vương, các vị hiền giả, hỏi có thiếu chi, nhưng chỉ có lúc sống thì được phú quý vinh hoa, còn sau khi mất thì những cái đó lại cũng mai một đi với thời gian, hỏi còn ai nhắc nữa? Còn như tiên sinh, nói về thế hệ đã truyền đến 7, 8 đời, gần thì sĩ phu dân thứ ngưỡng vọng như bóng sao Đẩu trên trời, dẫu cách ngàn năm cũng còn tưởng như một buổi sớm, xa thì sứ giả Thanh triều tên Chu Xán, nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng đã có câu “An Nam Lý học hữu Trình Tuyền” tức là công nhận môn Lý học của nước An Nam chỉ có Trình Tuyền là người số một, rồi chép vào sách truyền lại bên Tàu. Như thế, đủ thấy Tiên sinh quả là một người rất mực của nước ta về thời trước vậy.

Danh sĩ Nguyễn Thiếp (1723–1804), người được Quang Trung Nguyễn Huệ tôn kính như bậc thầy, từ xứ Nghệ ra Bắc, về trấn Hải Dương mong tìm lại những dấu tích gắn với cuộc đời của Bạch Vân cư sĩ, đã ngậm ngùi viết trong bài thơ Quá Trình Tuyền mục tự (Qua chùa cũ của Trình Tuyền)[77] khi viếng cảnh xưa mà không còn am Bạch Vân, quán Trung Tân bên bến Tuyết Giang, trong đó có những dòng thơ ca ngợi Trình Tuyền hầu Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có tài áo cơ thâm tạo hóa (mưu cơ thâm kín can dự cả vào công việc của tạo hóa) hay phiến ngữ toàn tam tính (một lời ngắn gọn mà bảo toàn cho cả ba họ).[78]

Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút đã viết: “Lý học như Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan đều là tinh anh của non sông đúc lại”.

Phan Huy Chú, danh sĩ thời nhà Nguyễn, trong bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí đã xem Nguyễn Bỉnh Khiêm là “một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở”.

Cũng như thời Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài và thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, người thời nhà Nguyễn ( 1802 – 1945 ) nói chung cũng không có mấy thiện cảm về những gì tương quan đến nhà Mạc, triều đại đối địch số 1 với những dòng họ thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn vốn cùng phát tích ở xứ Thanh. Thêm một nguyên do lịch sử dân tộc nữa là tổ phụ của những vua chúa nhà Nguyễn là Nguyễn Kim ( phụ vương của Nguyễn Hoàng ) đã bị đầu độc chết bởi tay một hàng tướng của nhà Mạc là Dương Chấp Nhất. Cho nên, dù không đến mức thâm thù gọi tên ” Ngụy Mạc ” như triều Lê-Trịnh nhưng triều Nguyễn cũng không mấy tôn trọng khi gọi ” Nhuận Mạc “. Tuy vậy, vua Tự Đức cũng không hề giấu sự ngưỡng mộ dành cho năng lực và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm trải qua bài thơ thất ngôn tứ tuyệt sau : [ 79 ]

Bản phiên âm Hán-Việt :

Tằng văn lý học hữu Trình Tuyền
Thế vận long ô mặc hội tiên.
Hồ nãi xảo đồ thần Nhuận Mạc
Hy Di, Khang Tiết cự như nhiên.
Bản tạm dịch :

Từng nghe lý học có Trình Tuyền[80]
Vận nước long ô nghiệm biết liền.
Gặp biến tùng quyền phò họ Mạc
Sánh cùng Khang Tiết[81] cũng như nhiên.

Nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười về thăm khu di tích lịch sử Trạng Trình đã ghi những hàng chữ lưu niệm : ” Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ, nhà văn, một thầy giáo, một nhà triết học, một nhà dự báo, một danh nhân văn hóa như cây đại thụ bóng trùm cả một thế kỷ XVI. Tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, nhân cách cao quý cùng với tri thức uyên bác và kĩ năng phát minh sáng tạo đã tạo nên sự nghiệp, uy tín và tác động ảnh hưởng to lớn của ông mà đến nay tất cả chúng ta rất đỗi tự hào, trân trọng. “Giáo sư Vũ Khiêu có những nhìn nhận về việc Nguyễn Bỉnh Khiêm đã quyết định hành động đi theo phò tá triều Mạc mà không phải là nhà Lê : ” Vì sao nhà trí thức kiệt xuất này, suốt cuộc sống cho đến lúc gần 50 tuổi vẫn nhất định không chịu đi thi, không chịu cộng tác với nhà Lê, không nhận bất kỳ việc làm gì của nhà Lê để ở đầu cuối chọn Mạc Đăng Dung như minh chủ của mình ? Theo những người xuyên tạc nói thì Nguyễn Bỉnh Khiêm bất đắc dĩ phải theo nhà Mạc mà thôi. Thực ra trước những thành công xuất sắc và tân tiến nhất định của nhà Mạc Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thực sự vui mừng, tin yêu ở một xã hội thanh thản và thịnh trị do triều đại mới đem lại : “ Mừng thấy thời vần đời mở trị / Thái bình thiên tử, thái bình dân ”. Ông quyết định hành động ra ship hàng nhà Mạc, coi đó là sự lựa chọn đúng đắn của bậc trượng phu và người quân tử : “ Quân tử mới hay nơi nguồn gốc / Trượng phu cũng có chí anh hùng ”. Họ còn nói : ông đã nửa chừng bỏ triều Mạc để về quê. Không phải như thế ! trái lại, ông đã suốt đời đem hết tâm lực để ship hàng triều Mạc trên mọi nghành văn học, chính trị, quân sự chiến lược coi như nghĩa vụ và trách nhiệm lớn lao của mình : “ Ba đời chúa được phúc vô tình / Ơn nặng chưa từng báo tóc tơ ”. Cho đến lúc ông 70 tuổi dù được về nghỉ ở quán Trung Tân, ông vẫn bày tỏ thái độ chung thuỷ với những vua Mạc vẫn nhiều lúc về thăm vua, nhiều lúc theo vua ra mặt trận : “ Xem lại tuổi đời ngoài bảy chục / Chỉ vì già yếu há quên vua ”. Tấm lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thái độ của ông do chính ông tự tay viết ra và còn để lại đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc vô căn cứ về ông. Những lời tận tâm trong thơ của ông khiến người đời sau phải tâm lý vì sao ông lại gắn bó với Mạc Đăng Dung và triều Mạc đến thế. “GS Vũ Minh Giang ( Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP. Hà Nội ) cho rằng : ” Sự lao vào muộn màng của một con người kĩ năng thể hiện từ khi còn bé chứng tỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm không thuộc người lãnh đạm với thời cuộc, mà trái lại ông là người có lý tưởng cao hơn nhiều so với chí hướng thi đỗ làm quan, vinh thân phì gia thường thấy ở phần đông nho sỹ. Ông chỉ tham gia vào chính trường khi cảm thấy thời cuộc cần đến mình, khi thực trạng chính trị hoàn toàn có thể tạo điều kiện kèm theo cho ông đem tài trí ra giúp đời, phụng sự quốc gia ” .Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài tham luận ” Bước đầu tâm lý về văn học Mạc ” đã nhìn nhận về Nguyễn Bỉnh Khiêm : ” … Ông là một nhà văn hóa, và riêng ở bình diện văn hóa truyền thống mà nói thì tầm vóc không thua kém Nguyễn Trãi là mấy, phần nào đấy còn khám phá vào một vài nghành sâu hơn. Bởi ông chuyên về dịch học. Chính ông thiết kế xây dựng nền tảng của tư tưởng biện chứng trong Kinh Dịch, góp vào lịch sử dân tộc tư tưởng Nước Ta 1 số ít kiến giải mới lạ. Là một nhà dịch học nên ông nổi tiếng là bậc tiên tri, nhưng ông cũng lại là một nhà thơ lớn. Ông viết đến một nghìn bài thơ chữ Hán. Đây là số lượng mà từ thời đại Mạc quay trở lại trước trọn vẹn chưa có … “

Giáo sư Nguyễn Tài Thư trong tác phẩm Nghiên cứu Kinh Dịch (Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, 2002) đã có những đúc kết về di sản Lý học (Dịch học) của Trạng Trình: “Chiêm nghiệm những nguyên lý của Chu Dịch, đưa nó vào xử thế mà ông nổi tiếng là người nhìn xa trông rộng. Những sự kiện Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên đoán nhà Lê trung hưng, chỉ cho nhà Mạc lên Cao Bằng, khuyên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Hóa Châu đã được lịch sử chứng minh là tài tình, thì ở đây không có gì là lời nói gặp may, mà là những dự đoán có cơ sở thực tế vững vàng, đáng được nhân dân tôn ông làm nhà tiên tri. Quả thật, học Dịch và hiểu Dịch như ông xưa nay không phải là nhiều… Ông đã vượt được các nhà Nho khác chính là ở chỗ ông học Dịch nhưng không bị lệ thuộc hoàn toàn vào Dịch”.

Nhà nghiên cứu và điều tra Trần Khuê trong tham luận hội thảo chiến lược khoa học “ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử vẻ vang tăng trưởng văn hóa truyền thống dân tộc bản địa ” ( 1991 ) đã có những đúc rút tinh xảo về hành trạng cuộc sống cũng như tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm : “ Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân từ cửa Khổng, ông đi ngang qua sân nhà Lão tử, rồi dừng lại trước cửa Thiền, suy ngẫm về giáo lý và đạo lý, ở đầu cuối ông đã quay trở lại với đồng ruộng và lũy tre xanh của làng quê Nước Ta, hay nói khác đi, ông đã trở lại với dân tộc bản địa. Suốt đời ông, ông đã sống như mình cần sống và đã hành vi như mình cần hành vi. ”

Những quan điểm phê bình

Khi so sánh Nguyễn Bỉnh Khiêm với một nhân vật lỗi lạc khác của trấn Hải Đông là Nguyễn Trãi, những nhà nghiên cứu đều không quên so sánh những độc lạ cơ bản về thời đại sống của hai danh nhân này. Xét về nhiều mặt, thời của Nguyễn Bỉnh Khiêm tăng trưởng và phức tạp hơn hẳn thời của Nguyễn Trãi, đặc biệt quan trọng là những quan hệ xã hội và kinh tế tài chính. Thời của Nguyễn Trãi, kẻ sĩ gần như là chỉ có một lựa chọn trên con đường kiến lập sự nghiệp sự nghiệp là hướng về triều đình quản lý ở Thăng Long. Cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm trong quá trình khủng hoảng cục bộ trầm trọng của chính sách phong kiến tập quyền Nước Ta, kẻ sĩ đồng thời có vài con đường lập nghiệp khác nhau như những lựa chọn của Nguyễn Dữ, [ 82 ] Dương Văn An, [ 83 ] Phùng Khắc Khoan, [ 84 ] Lương Hữu Khánh, [ 85 ] Đào Duy Từ [ 86 ] … Đánh giá về Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nhờ vào vào cách nhìn qua những thời đại khác nhau về triều Mạc – triều đại mà ông đã tận trung cho đến cuối đời nhưng là triều đại có nhiều xung đột lịch sử dân tộc nóng bức với những triều đại quyền lực tối cao phát tích từ xứ Thanh như nhà Lê sơ, nhà Lê-Trịnh, và cả nhà Nguyễn sau này. Nhìn nhận về cuộc sống và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bên cạnh những dòng ca tụng thường thấy về nhân cách, ảnh hưởng tác động lịch sử vẻ vang, góp phần cho văn hóa truyền thống dân tộc bản địa thì người ta cũng không quên phê bình cái nhìn trong thơ văn của ông với chính thời đại ông. Tác giả Trần Khuê ( Viện Nghiên cứu Hán Nôm ) trong “ Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc ” [ 87 ] nhìn nhận :

Ông cũng có những xích míc nội tâm rất lạ. Chính ông đã thông gia với Phạm Quỳnh, một người xuất thân là lái buôn chè, sau làm đến Tiết chế Đông đạo, đại diện thay mặt cho tập đoàn lớn doanh thương tại triều Mạc Phúc Nguyên ( con trai Phạm Quỳnh là Phạm Dao làm trấn thủ xứ Sơn Nam tức con rể ông, trở thành một lộng thần trong triều đình ). Cũng chính ông lại khinh ghét giới thương nhân và miệt thị đồng tiền, tìm cách xa lánh đời sống đô thị. Tất nhiên, không hề yên cầu một người xuất thân từ cửa Khổng như ông lại phải đồng ý mặt tích cực của đồng xu tiền và giới thương nhân. Ngay những người thông tuệ đến sau ông hàng mấy thế kỷ như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương … và ngay cả những tác gia tân tiến mà gần kề tất cả chúng ta nhất như Lưu Quang Vũ còn chẳng thấy rõ huống chi ông ? Giới tri thức dù xuất thân từ quý tộc hay tầm trung mà nằm trong vòng vây của ý thức hệ tiểu nông thì không hề tránh khỏi thái độ thù ghét đồng xu tiền và sự tăng trưởng của nền kinh tế tài chính sản phẩm & hàng hóa. Họ không sao chịu nổi sức san phẳng hung tàn của đồng xu tiền và sự đảo lộn bảng giá trị xã hội ; họ càng không chịu dựng nổi thói nhố nhăng hãnh tiến của giới thương nhân ít học hoặc vô học nhưng lại có quá nhiều tài lộc, thường biểu lộ thái độ thô bạo so với những giá trị truyền thống .

Tác giả Nguyễn Hữu Sơn ( Viện Văn học ) trong “ Đời và thơ Phùng Khắc Khoan trong toàn cảnh văn hóa truyền thống Đại Việt thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII ” [ 88 ] cũng có những đánh giá và nhận định khá tương đương với Trần Khuê :

Có thể thấy, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đi sâu khai thác đề tài đạo lý, răn dạy đạo đức từ mức độ phổ quát đến cụ thể, chẳng hạn ở các bài Cương thường tổng quát, Răn đầy tớ thờ chủ, Khuyên nàng dâu thờ cha mẹ chồng… Tất cả những bài thơ đó nhằm nêu cao yêu cầu “tu thân”, tu rèn đạo đức cá nhân, hướng về bảo toàn khí tiết lối “đồ nho” hơn là vươn tới hành động; bảo vệ các quan hệ đạo đức lễ nghĩa Nho giáo hơn là đi tìm lối thoát mới cho cuộc mưu sinh; bảo vệ các tín điều đạo đức xưa cũ hơn là bắt nhịp với thực tế lối sống mới đang nảy sinh (…) Nguyễn Bỉnh Khiêm buộc phải trả giá cho bản tính thi sĩ và những ước vọng đầy tính ảo tưởng của mình: ý thức bảo vệ chuẩn mực đạo đức truyền thống không đồng hành với thực tiễn đời sống xã hội đang đòi hỏi được đổi thay, phát triển. Ở đây nhiều vấn đề đạo đức có ý nghĩa tiêu biểu cho một thời kỳ mới mà đương thời Nguyễn Trãi trước đây chưa hình thành rõ nét, và chỉ thấy xuất hiện đậm đặc từ thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm; chẳng hạn các vấn đề về nội chiến phong kiến, vai trò đồng tiền, lối sống thị thành… Và một cách không tự giác, trong khi phê phán những yếu tố khác lạ đang nảy sinh trong lòng xã hội như một xu thế tất yếu thì chính ông lại tỏ bày thái độ cản phá bước tiến của lịch sử nói chung. Từ đây có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hiện diện như một cây đại thụ của văn hoá phong kiến, thiên về phê phán để khẳng định chuẩn mực đạo đức cũ, khác xa lối phê phán đồng tiền, phê phán lối sống thị thành và phê phán xã hội kiểu Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương sau này…

Về nhãn quang chính trị của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có nhiều quan điểm nhìn nhận trái chiều nhau qua những thời đại, có cả ca tụng và cũng không ít quan điểm mang tính phê bình, không ít trách móc ông. Đặc biệt là câu truyện vốn đã nổi tiếng trong sử sách về việc ông vốn là một trung thần của nhà Mạc nhưng lại không phủ nhận bày mưu hiến kế cho những họ Lê-Trịnh-Nguyễn, những thế lực thù địch số 1 của họ Mạc. Nhà điều tra và nghiên cứu văn hóa truyền thống phương Đông Trần Ngọc Vương trong bài viết “ Lưỡng đầu chế thời Lê-Trịnh và những hệ quả lịch sử dân tộc của nó ” có những nhận xét mang tính đại diện thay mặt cho luồng quan điểm phê bình trong nhìn nhận về Nguyễn Bỉnh Khiêm : [ 89 ]

Từng có rất nhiều quan điểm, khu công trình nghiên cứu và điều tra, phẩm bình về nhân vật lịch sử vẻ vang này, nhưng thuỷ chung, lời giải đáp rốt ráo về lập trường chính trị – xã hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn cần được coi là thiếu vắng. Là một trong những vị trạng nguyên nổi danh vào bậc nhất mà nhà Mạc đã lấy đỗ, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng từng xuất chính với nhà Mạc mấy đợt, quan hàm thực từng giữ lên tới Thị lang, chưa nói rằng khi mất lại được chính vua Mạc tế lễ, vinh phong tước Trình Quốc công, quan hàm Tể tướng, khiến dân thường trực ( Vĩnh Lại ) thờ làm phúc thần. Theo lẽ thường, thì Nguyễn Bỉnh Khiêm phải “ sống làm tôi nhà Mạc, chết làm thần ( hay ma ) nhà Mạc ” mới phải. Vậy nhưng phối hợp tài liệu của cả chính sử lẫn dã sử lại mà soi, Nguyễn Bỉnh Khiêm có vẻ như lại vừa là “ trọng tài giám sát ” cho tổng thể những trận đấu quyền lực tối cao, lại vừa tham gia một cách không hề vô tư vào những diễn biến và có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến ( những ) hiệu quả sau cuối. Với nhà Mạc, thì ngón tay trỏ “ Cao Bằng tuy thiểu khả dung sổ thế ” đã biến vương triều này thành một “ sứ quân ” cát cứ, truyền tiếp thêm 7 đời sau. Với họ Nguyễn, thì hầu hết ai cũng biết tới lời mách nước lẫy lừng của Trạng Trình “ Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân ” đã thực sự là khởi đầu cho một dòng chúa, một triều vua, tuy có đứt gãy bầm dập, nhưng vẫn hoàn toàn có thể tính dấu ấn lịch sử dân tộc của dòng họ quyền lực tối cao này từ 1533 đến tận 1945 ! Với Lê – Trịnh thì khỏi nói, bởi ông chính là người đưa ra lời khuyên chúa Trịnh ( Kiểm ) hãy đừng “ thanh lý ” ngôi vua, cứ “ thờ Phật mà ăn oản ”, cả khi “ mùa mất, giống xấu ” thì hãy biết “ tìm giống cũ mà gieo ”. Vậy là đẻ ra cái “ lưỡng đầu chế ” không tiền khoáng hậu trong lịch sử dân tộc, sống sót hai trăm năm có lẻ. Không thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm “ vô can ” trước cảnh “ năm bè bảy cánh ” của cục diện chính trị Nước Ta tối thiểu hàng thế kỷ tiếp theo đó .

Thậm chí đã có một bài thơ thất ngôn bát cú khuyết danh được lưu truyền tới nay, nói về Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa hàm ý ca tụng nhưng cũng ngầm ý trách móc ông : [ 90 ]

Thần cơ huyền bí rất tinh thông
Xứ xứ, ai ai cũng biết ông
Một nước Chu, Trình[91] danh giá trọng
Hai triều Lê Mạc nợ nần chung
Biết rằng song Tấu bay chân ngựa
Sao chẳng non thương dấu cánh hồng
Ví dậy suối vàng xin hỏi lại
Dong thân còn có đất nào không?

Hình tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tôn giáo

Nguyễn Bỉnh Khiêm là danh nhân văn hóa duy nhất trong lịch sử vẻ vang Nước Ta cho tới nay được công nhận là một vị thánh của một tôn giáo chính thức. Ông được suy tôn là Thanh Sơn Đạo sĩ ( còn được gọi là Thanh Sơn Chơn nhơn ), là một trong ba vị thánh rất thiêng của Đạo Cao Đài. Bức tranh Tam Thánh ký hòa ước được lưu thờ tại Tòa Thánh Tây Ninh có vẽ chân dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm bên cạnh Victor Hugo và Tôn Trung Sơn .

Những hiện vật lịch sử vẻ vang gắn liền với Nguyễn Bỉnh Khiêm được lưu giữ tới nay

Ngoài khu vực di tích lịch sử và đền thờ Trình Quốc công thuộc địa phận 2 huyện Vĩnh Bảo ( quê nội Nguyễn Bỉnh Khiêm ) và Tiên Lãng ( quê ngoại Nguyễn Bỉnh Khiêm ) của Thành phố TP. Hải Phòng, những nhà nghiên cứu Hán Nôm tại Nước Ta đã phát hiện 1 số ít di vật lịch sử vẻ vang có giá trị lớn không chỉ về Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn về thời Mạc nằm trong địa phận 2 huyện Thái Thụy và Quỳnh Phụ ( sau khi hợp nhất 2 huyện cũ là Quỳnh Côi và Phụ Dực ) của tỉnh Tỉnh Thái Bình tiếp giáp với huyện Vĩnh Bảo của Thành phố Hải Phòng Đất Cảng. [ 92 ]

Trong bài viết “Bài văn bia ghi việc tạc tượng Tam giáo, chùa Cao Dương của Trình Quốc công” (Tạp chí Hán Nôm số 1, 1990) của hai tác giả Đinh Khắc Thuân và Vũ Tuấn Sán có đoạn:

Bài văn bia ghi việc tạo tượng Tam giáo chùa Cao Dương được viết vào những năm cuối đời ông[93] và khắc lên bia đá lưu truyền đến ngày nay. Bia dựng sát hậu cung chùa Cao Dương thuộc xã Cao Dương, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, cách quê Trạng Trình không xa. Bia dẹt, cao 100cm, ngang 65cm. Trán bia là hình bán nguyệt, ở trung tâm chạm mặt nguyệt to tròn, có nhiều tua mây. (…) Bài văn bia được viết bằng chữ Hán. Chữ khắc chân phương, nét khắc mảnh phóng khoáng. Có đôi chữ bị mờ, song vẫn có thể khôi phục được. Bia gồm 26 dòng, dòng nhiều chữ nhất là 36 chữ, cả thảy là 570 chữ. (…) Văn bia viết năm 1578, lúc ông đã 87 tuổi, 7 năm trước khi mất. Đúng là bài văn bia khắc trên đá hiếm thấy của vị trạng nguyên nổi tiếng. Ngoài bài này, hiện nay chúng ta chỉ biết có bài nữa của ông là Trung Tân quán bi minh trên tấm bia Trung Tân ở quê ông tại làng Trung Am huyện Vĩnh Lại nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng. Tấm bia này nay không còn, chỉ được biết qua Hoàng Việt Văn tuyển do Bùi Huy Bích chép lại vào cuối thế kỷ XVIII. (…) Lời thuật và bài bia minh việc tạo tượng Tam giáo và sửa chùa Cao Dương: Diên Thành sơ niên nhị nguyệt cốc nhật. Tứ Ất Mùi khoa Tiến sĩ cập đệ Trình Quốc công trí sĩ Vĩnh Lại, Trung Am Nguyễn tự Hanh Phủ soạn. [Dịch nghĩa: Ngày lành tháng 2 năm đầu niên hiệu Diên Thành (1578). Tiến sĩ cập đệ khoa Ất Mùi (1535) trí sĩ họ Nguyễn tự Hanh Phủ, tước Trình Quốc công, người xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại soạn.][7][8][9]

Trong bài viết “Hai tấm bia Trạng Trình soạn mới phát hiện ở Thái Bình” (Tạp chí Hán Nôm số 6, 2002), nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Hữu Tưởng mô tả chi tiết 2 tấm bia có niên đại thời Mạc do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn văn và cho khắc đá:

Tháng 11 năm 2000, đoàn cán bộ Viện điều tra và nghiên cứu Hán Nôm thực thi sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Tỉnh Thái Bình. ( … ) Chúng tôi được tận mắt chứng kiến hai tấm bia có niên đại nhà Mạc do chính Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn còn được bảo vệ khá nguyên vẹn tại đây. Trên một vùng đất láng giềng với quê nhà Cụ Trạng, lại là hai bài văn do chính Cụ Trạng sáng tác, được lưu giữ trên vật liệu tương đối vững chắc, thiết nghĩ hai tấm bia này là một bảo vật cần được trân trọng và gìn giữ. Bởi vậy chúng tôi thấy cần trình làng thoáng rộng cho giới điều tra và nghiên cứu và giới quản trị văn hóa truyền thống về hai tấm bia này .- Tấm bia thứ nhất : được phát hiện tại chùa Thanh Quang, thôn An Phú, xã Quỳnh Hải ( thuộc Quỳnh Côi cũ ). Qua những tư liệu Hán Nôm, đây là ngôi chùa đã có từ triều Trần. Ngoài hiên chùa dựng 4 tấm bia có niên đại từ đời Mạc tới đời Nguyễn. Sư cụ giữ chùa cho biết trong chùa còn một tảng đá nữa và đưa chúng tôi vào xem. Tại tiền đình chùa, khe giữa ban thờ đức ông và tường chùa quả có một tấm bia. Vì khe quá hẹp, bia lại chôn sâu gần 50% trong nền gạch, nên khi bật lửa soi chúng tôi chỉ thấy bia có tín hiệu là bia thời Mạc nên đề xuất dân làng đào lên. Khi tấm bia được đưa lên, thì đó đúng là tấm bia thời Mạc. Tấm bia gồm hai mặt, khổ 70 x 79 cm. Mặt 1 tấm bia nhan đề Diên Thọ kiều bi ( Bia cầu Diên Thọ ). Phần tên tác giả đề : Tứ Ất Mùi khoa Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh Trình Quốc công trí sĩ, Vĩnh Lại Trung Am Nguyễn Bỉnh Khiêm Hanh Phủ soạn. Phần niên đại đề : Sùng Khang vạn vạn niên chi tam, bát nguyệt, thập ngũ nhật : Ngày 15 tháng 8 năm Sùng Khang 3 ( 1568 ) .- Tấm bia thứ hai : Khi tới xã An Ninh ( thuộc Phụ Dực cũ ) chúng tôi được những chiến sỹ ủy ban xã cho biết trong xã có một tấm bia Cụ Trạng và đưa chúng tôi tới xem. Tấm bia này nằm tại chùa Khang Ninh, xã An Ninh. Bia 2 mặt khổ 55 x 63 cm. Mặt một bia nhan đề : Tu tạo thạch Phật bi ký ( bia ghi về việc tạc tượng Phật bằng đá ). Phần tác giả đề : Tứ ất Mùi khoa Tiến sĩ cập đệ Trình Quốc công trí sĩ, Vĩnh Lại Trung Am Độn Tẩu Nguyễn Bỉnh Khiêm Hanh Phủ soạn. Phần niên đại đề : Diên Thành nhị niên thập nhất nguyệt, thập bát cốc nhật – Ngày lành 18 tháng 11 năm Diên Thành 2 ( 1579 ). [ 8 ]

Trong đợt khảo sát khác cũng thuộc địa bàn huyện Quỳnh Phụ của tỉnh Thái Bình, nhà nghiên cứu Trang Thanh Hiền (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 355, 2014) có mô tả sơ lược về tấm bia cầu Diên Thọ (Diên Thọ kiều bi) do Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn năm 1568:

Chùa Thanh Quang lúc bấy giờ là mới được dựng lại, nhưng ở chùa còn lưu giữ 4 tấm bia ký, trong đó có 3 bia thời Chính Hòa. Các bia này gồm có : bia Diên Thọ kiều cổ tích bi, năm Thịnh Đức thứ 4 ( 1656 ), nói về sự tích cây cầu Diên Thọ. Cũng tương quan đến cây cầu này có tấm bia An Diên Thọ kiều bi ký, nói về việc làm cầu ở An Phú, Quỳnh Phụ, soạn năm Chính Hòa năm thứ 12 ( 1691 ). Một bia Hậu thần bi ký, soạn năm Chính Hòa thứ 26 ( 1705 ), nói về việc dựng đình ở An Phú ( ngôi đình này hiện không còn ). Và, một bia có hai mặt, một mặt đề Diên Thọ kiều bi, niên đại năm Sùng Khang thứ 3 ( 1568 ). Mặt sau của tấm bia này đề Trùng tu tân tạo Thanh Quang tự bi ký. Trong số những bia này, chúng tôi đặc biệt quan trọng chú ý quan tâm đến 2 tấm bia năm Thịnh Đức 4 ( 1656 ) và tấm bia 2 mặt. Tấm bia hai mặt có kích cỡ 70 x 79 cm, người soạn là Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi đó có chức vụ là Tứ Ất Mùi khoa Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh Trình Quốc công trí sĩ, Vĩnh Lại Trung Am Hanh Phủ. Bia khắc chữ rõ ràng, gồm hai phần. Phần đầu là bài văn nói về việc dựng cầu đá và một bài minh 8 câu, mỗi câu 4 chữ, ca tụng việc dựng cầu. Mặt sau tấm bia ghi lại việc trùng tu, tôn tạo chùa Thanh Quang. Theo nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Hữu Tưởng, [ 8 ] trong lần khảo sát năm 2000, niên đại khắc trên mặt sau của bia là Dương Hòa tứ niên lục nguyệt thập bát cốc nhật ( tức ngày mồng 4 tháng 6 năm Dương Hòa 4, 1640 ). Chữ trên mặt sau của bia khác hẳn so với chữ ở mặt trước. Với việc hai mặt bia có hai niên đại cách nhau 78 năm, có nội dung khác nhau, nét chữ khác nhau, là địa thế căn cứ để nhận định và đánh giá rằng, tấm bia này vốn chỉ có một mặt, được tạo vào năm Sùng Khang 3 ( 1568 ) để khắc bài văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. [ 9 ]

Đây được xem là những phát hiện lịch sử có giá trị lớn về Nguyễn Bỉnh Khiêm và thời Mạc bởi chúng giúp giải đáp hoặc bác bỏ nhiều tồn nghi qua nhiều thời đại về cuộc đời thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Qua 3 tấm văn bia còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của tỉnh Thái Bình, chúng ta có thể biết đích xác một vài thông tin lịch sử quan trọng là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chính thức nghỉ hưu (trí sĩ) ở quê nhà Trung Am và được vua Mạc phong tước Quốc công (đứng liền trên tước Quận công và đứng ngay dưới tước Vương trong thứ bậc phong tước hiệu của các triều đại phong kiến Trung Quốc và Việt Nam ngày trước) từ trước năm 1568, tức là sớm hơn 17 năm trước khi ông qua đời.[8][9] Điều này trực tiếp bác bỏ quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu là ông chỉ được truy phong tước Công sau khi mất (1585). Nó cũng đồng thời gián tiếp bác bỏ quan điểm gần như đã trở thành quen thuộc của giới nghiên cứu là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sớm về hưu sau có 7 năm (1535–1542) làm quan dưới triều Mạc và không còn quay lại tham chính sau đó.

Việc Nguyễn Bỉnh Khiêm được phong tước hiệu Quốc công (Trình Quốc công) ngay khi ông còn sống đã cho thấy sự khoản đãi và trân trọng của vua Mạc với ông lớn tới cỡ nào. Bởi tước Công thường chỉ được ban tặng cho những người thân thích trong hoàng tộc và những người có công lớn trong các cuộc dẹp loạn cứu giá hay các cuộc chiến chống giặc ngoại xâm. Ông không phải người thân thích trong hoàng tộc nhà Mạc, cũng không phải quan tướng cầm quân ra trận. Ông là một văn nhân Nho gia điển hình như sử sách và cả thơ văn của chính ông vẫn thường mô tả. Thực tế cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cho thấy ông chưa bao giờ bị ràng buộc bởi “giấc mộng công hầu”. Sử sách (như của Phan Huy Chú) cũng ghi nhận rằng ông mang lý tưởng giúp đời hơn là ôm tham vọng thăng quan tiến chức, bởi suốt những năm trai trẻ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chủ động không ứng thí nhiều khoa thi cuối triều Lê sơ và cả đầu triều Mạc. Ông chỉ bước vào chốn quan trường khi đã gần 50 tuổi, sau nhiều năm đứng ngoài quan sát thời cuộc. Đường quan lộ của ông kéo dài chưa đầy 30 năm, tính từ năm ông đậu Trạng nguyên ở tuổi 45 (1535) cho tới khi chính thức cáo quan về nghỉ hưu ở độ tuổi 73 như trong thơ văn của ông đã xác nhận. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một sai sót lịch sử cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ông chỉ có 7 năm (1535–1542) làm quan dưới triều Mạc rồi cáo quan về sống và dạy học ở quê nhà Trung Am cho đến lúc mất. Thực tế lịch sử phong kiến Việt Nam cho thấy phong cách “làm quan tại gia” (không ở thường trực tại kinh đô nhưng vẫn đủ quyền hành vua ban để có thể tác động đến chính sự từ xa) như Nguyễn Bỉnh Khiêm là thực sự ít gặp. Trước ông có trường hợp Chu Văn An nhưng sự nghiệp của Văn An chủ yếu nghiêng về mặt giáo dục hơn là tác động đáng kể đến chính sự nhà Trần.

Đặt giả thiết nếu sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ có 7 năm (trong cả cuộc đời kéo dài gần một thế kỷ của ông) phục vụ dưới triều Mạc và nếu ông không có những công tích đặc biệt với triều đại thì vua Mạc lấy lý do chính đáng nào để ban tước hiệu lớn đến vậy (tước Quốc công, Trình Quốc công) cho ông ngay lúc sinh thời, như nội dung 3 tấm văn bia được phát hiện tại tỉnh Thái Bình đã cho biết? Cần nhớ rằng, một công thần bậc nhất của nhà Mạc như Trạng nguyên Giáp Hải (1515–1586?) cũng chỉ được thăng đến tước Công sau khi ông đã có nhiều năm hết lòng phụng sự triều đại.[34][35] Cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những nhân vật có công không nhỏ với công cuộc trung hưng thành công của nhà Lê-Trịnh cuối thế kỷ 16 là Phùng Khắc Khoan (1528–1613)[94] và Nguyễn Hoàng (1525–1613) cũng chưa được phong quá tước Công lúc còn sống.[95] Cũng cần nhớ thêm rằng, một khai quốc công thần hàng đầu của nhà Lê sơ như Nguyễn Trãi (1380–1442), có công lớn với triều Hậu Lê đến mức tưởng chỉ đứng sau Lê Thái Tổ (Lê Lợi), nhưng chỉ được phong đến tước Hầu (tước phong của Nguyễn Trãi là Quan Phục hầu, đứng áp chót trong thứ bậc phong hầu cho các công thần nhà Lê sơ sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi) lúc sinh thời. Sau thảm án Lệ Chi Viên, Lê Thánh Tông đã xuống chiếu chiêu tuyết cho Nguyễn Trãi, nhưng cũng chỉ truy tặng ông tước (Tán Trù bá), hạ bậc tước phong của Nguyễn Trãi khi còn sống. Sau đó, Lê Tương Dực cũng chỉ truy tặng Nguyễn Trãi trở lại tước Hầu (Tế Văn hầu).

Giai thoại

Tương truyền thuở nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên là Văn Đạt. Mẹ ông là Nhữ thị vốn tinh thông tướng số và có ước vọng là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua. Do đó trong quy trình dạy dỗ, bà đã truyền cho ông mơ ước ấy rồi .Một hôm khi bà đi vắng, ông Định ở nhà với con và vô tình hát :

“Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung”.

Không ngờ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhanh nhảu ứng đối lại ngay :

“Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung”.

Khi bà về đến nhà, ông rất tâm đắc kể lại chuyện ấy thì bị bà trách nuôi con mong làm vua làm chúa cớ sao lại mong làm bầy tôi (nguyệt chỉ bầy tôi).

Lại một lần khác bà dạy Nguyễn Bỉnh Khiêm câu hát

“Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con tựa ngai vàng”.

Ông Định hoảng sợ vì nếu triều đình hay được sẽ mất đầu về tội khi quân nên sửa lại :

“Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con vịn ngai vàng”.

Nhiều lần như vậy, bà rất bất bình nên bỏ đi. Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên chỉ được ở cạnh bố .Tương truyền sau đó bà lấy một người họ Phùng và sinh ra Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Sau chính Khắc Khoan trở thành học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm .Bà Nhữ Thị vẫn không thoả chí vì họ Phùng không có chí làm vua .Mãi sau này bà Nhữ vô tình gặp một trang đàn ông làng chài đang kéo lưới mà bà hụt hẫng vì cho rằng người này có số làm vua, còn tuổi mình đã cao. Người đó chính là Mạc Đăng Dung, vị vua khai triều của nhà Mạc .

Ghi nhận

Một góc vườn tượng trong quần thể Khu di tích lịch sử Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm .Năm 1985, tại Thành phố Hải Phòng Đất Cảng, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng Đất Cảng phối hợp với Ủy ban Khoa học Xã hội Nước Ta tổ chức triển khai Hội thảo khoa học về Danh nhân văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân kỷ niệm 400 năm ngày mất của ông. Tại hội thảo chiến lược này, những nhà khoa học đã nhìn nhận, chứng minh và khẳng định về tầm vóc của Trạng Trình và ghi nhận những góp phần của Nguyễn Bỉnh Khiêm với thời đại ông sống cũng như với lịch sử dân tộc dân tộc bản địa .Năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội Nước Ta và Sở Văn hoá tin tức Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức triển khai cuộc Hội thảo khoa học kỷ niệm 500 năm ngày sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm với chủ đề ” Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sự tăng trưởng văn hoá dân tộc bản địa ” .Cũng trong năm 1991, khu di tích lịch sử gắn với cuộc sống và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố TP. Hải Phòng đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử lịch sử vẻ vang văn hóa truyền thống cấp vương quốc .Cuối năm 2000, nhân kỷ niệm 415 năm ngày mất của Trạng Trình, Ủy ban nhân dân Thành phố Hải Phòng Đất Cảng cho thi công thiết kế xây dựng dự án Bất Động Sản tăng cấp tạo dựng cả một vùng to lớn thành quần thể ” Khu di tích lịch sử danh nhân văn hóa truyền thống Nguyễn Bỉnh Khiêm ” tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo với nhiều khuôn khổ khu công trình : Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm với ba gian tiền đường, hai gian hậu cung, phía trước có hai hồ nước tượng trưng cho trời và đất, bức hoành phi trong đền ghi 4 chữ ” An Nam Lý Học ” ; Khu vực hồ Thái Nhâm phía trước đền thờ, trên khoảng chừng đất nhỏ giữa hồ có cầu bắc qua còn lưu giữ tấm bia đá làm năm Vĩnh Hựu thời Lê Trung Hưng ( 1736 ) ghi lại việc làm đền thờ Trạng và tên những người đã góp phần thiết kế xây dựng đền ; Ngôi nhà ba gian lợp cói dựng phía sau đền, mô phỏng am Bạch Vân, nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi từ quan về dạy học ; Quần thể vườn tượng, với size tương tự người thật, miêu tả lại cuộc sống, cảnh dạy học khi xưa của Trạng Trình, tạo nên một khung cảnh thân mật và sôi động với hành khách ; Phần mộ cụ Nguyễn Văn Định, cha của Trạng Trình ( riêng phần mộ của Trạng Trình đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức về khu vực đơn cử ) ; Nhà tọa lạc về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm ; Quán Trung Tân, nơi lưu giữ ý niệm mới về chữ ” Trung ” hướng lòng theo ” Chí Trung Chí Thiện ” ; Khu vực tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng đá granit cao 5,7 m, nặng 8,5 tấn cùng hai bức phù điêu diễn đạt lại cuộc sống sự nghiệp của Trạng Trình và lịch sử vẻ vang của địa phương, phía trước tượng đài là hồ bán nguyệt rộng 1.000 m² ; Chùa Song Mai, Nhà thờ tổ là nơi thờ bà Minh Nguyệt, người vợ thứ ba của Trạng Trình đã từng tu hành tại đây ; Tháp Bút Kình Thiên với ý niệm ca tụng công đức Trạng Trình như cột trụ chống trời. Khu di tích lịch sử được thiết kế xây dựng khang trang đã trở thành điểm du lịch văn hóa truyền thống lớn của Thành phố TP. Hải Phòng .

Nhân kỷ niệm ngày mất của ông, giáo sư Vũ Khiêu viết Chúc văn tưởng niệm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, sau được in trong tập “Danh nhân văn hoá Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm” do Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành năm 2001 có đoạn: “Ngoài vòng danh lợi: đôi làn mây trắng bay cao Trong cuộc bể dâu: một tấm lòng son chẳng đổi“[96]

Trên quê ngoại ông ở thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng được thờ cùng với mẹ Nhữ Thị Thục và ông ngoại Nhữ Văn Lan tại Từ đường họ Nhữ – Nguyễn trong quần thể di tích lịch sử có lăng mộ của vợ chồng Tiến sĩ Thượng thư Nhữ Văn Lan cùng con gái Nhữ Thị Thục ( mẹ của Trạng Trình ) .Văn miếu Mao Điền ở Thành Phố Hải Dương và Văn miếu Trấn Biên ở Đồng Nai đều có tượng và bài vị thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm .Đình làng Thanh Am ( tên cũ là Hoa Am ) thuộc phường Thượng Thanh, Q. Long Biên, TP.HN thời nay, được kiến thiết xây dựng từ cuối thế kỷ XVI là nơi thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm như một vị Thành hoàng của làng. Tên gọi cũ là Hoa Am cũng do Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc sinh thời đặt cho làng trong thời hạn ông làm quan dưới triều Mạc. Khi về già, ông vẫn lui tới đây khuyên dân làm nghề nông nuôi tằm ươm tơ dệt lụa. Khi ông mất, nhân dân ghi nhớ công lao, tôn sùng ông là một trong những vị Thành Hoàng của làng. Cụm đình, chùa làng Thanh Am có bề dày lịch sử dân tộc với những sắc phong, thần phả, sấm ký và nhiều tư liệu còn giữ. [ 97 ]Đạo Cao Đài đã phong thánh cho Nguyễn Bỉnh Khiêm và suy tôn ông là Thanh Sơn Đạo sĩ hay Thanh Sơn Chơn nhơn, là một trong ba vị thánh rất thiêng của Đạo. Bức tranh Tam Thánh ký hòa ước lưu thờ tại Tòa Thánh Tây Ninh có vẽ chân dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm bên cạnh Victor Hugo và Tôn Trung Sơn .Ngày 7 tháng 1 năm năm nay ( tức ngày 28 tháng 11 năm Ất Mùi ), tại Khu di tích lịch sử và đền thờ Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Ủy Ban Nhân Dân Thành phố TP. Hải Phòng đã trang trọng kỷ niệm 430 năm ngày mất của ông và đảm nhiệm bằng xếp hạng Di tích vương quốc đặc biệt quan trọng do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thay mặt nhà nước trao tặng. Buổi lễ đã được truyền hình trực tiếp trên sóng VTV2 của Đài truyền hình Nước Ta. Đây là di tích lịch sử vương quốc đặc biệt quan trọng thứ hai của Hải Phòng Đất Cảng sau danh lam thắng cảnh quần đảo Cát Bà được xếp hạng vào năm 2013 .

Tên của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được lấy đặt cho nhiều con đường, trường học trên khắp đất nước. Tại Hải Phòng có một con phố mang tên Trạng Trình và con đường mang tên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tại Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn), đường Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc phường Bến Nghé, quận 1 (được đổi từ tên đường Angier vào năm 1955) là một trong những con đường lưu giữ nhiều giá trị lịch sử-văn hoá-kiến trúc bậc nhất của thành phố, bao gồm những công trình tiêu biểu như Thảo Cầm Viên Sài Gòn, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, Đền thờ các vua Hùng và Trường THPT công lập Trưng Vương.

Tham khảo

Xem thêm

Chú thích và nguồn dẫn

Liên kết ngoài